Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 11, nhiệm kỳ 1986 - 1989
Thực hiện Nghị quyết Đại hội V của Đảng, bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, tình hình kinh tế - xã hội đất nước ta gặp nhiều khó khăn gay gắt. Từ đầu năm 1986, giá cả trên phạm vi cả nước nói chung và huyện Ninh Hòa nói riêng tăng liên tục với tốc độ “phi mã” làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn[1]. Các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, đời sống xã hội đều sa sút và trở nên nghèo nàn. Sức sản xuất của toàn xã hội, nhất là sản xuất - kinh doanh của thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể bị kìm hãm bởi cơ chế, chính sách kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp. Tình hình đó tạo tạo ra những bức bách, dẫn đến tình trạng “xé rào” khá phổ biến trong cả nước nhằm làm cho sản xuất, kinh doanh “bung ra” phù hợp với sự biến động nhanh chóng của thị trường. Nhưng đồng thời “xé rào” dẫn đến vi phạm kỷ cương, pháp luật và những hiện tượng đặc quyền, đặc lợi, móc ngoặc trong xã hội phát triển. Nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng gay gắt, “chưa bao giờ lại đứng trước những khó khăn lớn về kinh tế và đời sống nhân dân như hiện nay”[2].
Trong bối cảnh đó, quán triệt Chỉ thị số 80-CT/TW ngày 11/3/1986 của Ban Bí thư về đại hội đảng bộ các cấp, từ ngày 12 - 16/9/1986, tại Trường Đảng huyện, Đảng bộ tổ chức Đại hội lần thứ 11. Về dự Đại hội có 160 đại biểu chính thức, đại diện cho gần 1.200 đảng viên và 74 chi, đảng bộ cơ sở trong toàn Đảng bộ. Đại hội thảo luận và thông qua những ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 và dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Khánh (khóa III) trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 4; Đại hội tập trung kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 10 và định hướng phát triển cho nhiệm kỳ tới. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XI, nhiệm kỳ 1986 - 1989 gồm 45 Ủy viên, trong đó 35 Ủy viên chính thức và 10 Ủy viên dự khuyết; bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 4 gồm 23 đại biểu chính thức, 2 đại biểu dự khuyết. Ngày 18/9/1986, Ban Chấp hành khóa mới họp phiên đầu tiên bầu Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 11 đồng chí; bầu đồng chí Trần Việt Á, Tỉnh ủy viên làm Bí thư Huyện ủy; bầu 3 đồng chí là Nguyễn Bá Cường, Bùi Thanh Lâm, Phạm Đài làm Phó Bí thư Huyện ủy; bầu Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy gồm 7 đồng chí.
Đánh giá kết quả đạt được trong nhiệm kỳ qua, Đại hội khẳng định, trong tình hình khó khăn chung, Đảng bộ “đã sử dụng bước đầu sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng từ huyện đến cơ sở, đặc biệt vai trò của tổ chức cơ sở đảng năng động, sáng tạo trong khai thác lao động, đất đai, rừng, biển và những tài nguyên khác…, làm cho tình hình kinh tế - xã hội của huyện chuyển biến đi lên”[3], tạo tiền đề để tiếp tục phát triển cho các năm sau. Đại hội đề ra phương hướng và mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế xã hội đến năm 1988 và hướng phấn đấu đến năm 1990, là: Tiếp tục xây dựng cơ cấu kinh tế huyện nông - công nghiệp; phát triển nông nghiệp một cách toàn diện (bao gồm cả nông, lâm, diêm nghiệp và nuôi trồng thủy sản), thực sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; phát triển mạnh công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng. Trên cơ sở đó, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; ổn định và từng bước nâng dần đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Quan tâm hơn nữa sự nghiệp giáo dục, y tế, xây dựng con người mới, nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Nâng cao cảnh giác cách mạng, thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Để bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đề ra, Đại hội nhấn mạnh phải xây dựng Đảng bộ huyện trong sạch, vững mạnh, toàn Đảng bộ phải đoàn kết nhất trí cao, nói và làm theo nghị quyết của Đảng.
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 11 đánh dấu bước phát triển mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa diễn ra trên địa bàn Ninh Hòa, tiến tới cùng cả tỉnh, cả nước xóa bỏ cơ chế cũ kìm hãm sự phát triển, mở đường cho công cuộc đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Từ ngày 15 - 18/12/1986, Đảng tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6. Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, sau khi khẳng định những mặt làm được, phân tích, phê phán nghiêm túc những sai lầm, khuyết điểm trong thời gian qua, với tư duy mới, Đại hội đi đến thống nhất và quyết tâm dứt khoát từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Tại thời điểm đòi hỏi cấp bách nhất của thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đại hội đã khởi xướng đường lối đổi mới kinh tế, đưa đất nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới. Sau Đại hội VI, cả nước đón nhận luồng sinh khí mới, nhanh chóng triển khai mạnh mẽ công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, trong những năm đầu, công cuộc đổi mới gặp nhiều khó khăn, phức tạp, có lúc tưởng chừng không thể vượt qua. Ba năm liền (1986 - 1988) lạm phát ở mức ba con số[4]. Đời sống nhân dân, nhất là của nhữngngười hưởng lương và trợ cấp xã hội giảm sút mạnh. Nhiều xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp đình đốn, thua lỗ, sản xuất cầm chừng, thậm chí phải đóng cửa. Hàng chục vạn công nhân buộc phải rời xí nghiệp; hàng vạn giáo viên và cán bộ, viên chức phải bỏ nghề, nghỉ việc đi tìm việc làm khác để có thu nhập ổn định cuộc sống. Những vụ đổ vỡ quỹ tín dụng, huê hụi xảy ra ở nhiều nơi gây mất ổn định xã hội. Thêm vào đó, các thế lực thù địch bên trong và ngoài nước móc nối với nhau đẩy mạnh kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt, chống phá cách mạng Việt Nam ngày càng quyết liệt. Vùng biên giới phía Bắc luôn trong tình trạng an ninh không ổn định; vùng biển đảo huyện Trường Sa bị Trung Quốc khiêu khích, gây hấn và ngang nhiên lấn chiếm. Thế giới lại có nhiều diễn biến phức tạp, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Tình hình đó tác động xấu đến mọi hoạt động của cả nước, cả tỉnh nói chung và Ninh Hòa nói riêng.
Trong bối cảnh có nhiều khó khăn, phức tạp nêu trên, Đảng bộ và nhân dân Ninh Hòa đã tỏ rõ bản lĩnh vững vàng, ra sức khắc phục khó khăn, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, vận dụng sáng tạo quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng để từng bước giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, phù hợp với thực tiễn của địa phương.
Hai năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới
Quán triệt Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 4, Đảng bộ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 11 với tư duy mới, nhất là tư duy kinh tế. Ngày 20/12/1986, Huyện ủy ra Nghị quyết số 5-NQ/HU về phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ năm 1987, nêu rõ quyết tâm giành thắng lợi to lớn trong năm đầu tiên thực hiện công cuộc đổi mới. Nhận thức sâu sắc nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, Đảng bộ dồn sức tập trung thực hiện các biện pháp then chốt nhất. Về thủy lợi, ngoài việc củng cố các đội thủy lợi 202 của các xã[5] có mặt thường xuyên trên các công trường, toàn huyện tổ chức các đợt ra quân đầu năm, tập trung gần một vạn người làm thủy lợi. Huyện ủy chủ trương giành trên 60% tổng số ngày công nghĩa vụ của toàn huyện để xây dựng hệ thống kênh mương cấp 3, cấp 4 gắn với cải tạo đồng ruộng để đưa nước kênh Đông và một phần nước kênh Tây Đá Bàn vào sản xuất. Nhờ đó, đến năm 1988 đã tăng thêm 1.500ha được tưới nước chủ động và củng cố tưới chắc 4.200ha lúa 2 vụ. Để tận dụng tối đa nguồn nước Đá Bàn, ngày 3/2/1987, Trạm bơm Bình Sơn có công suất thiết kế tưới cho 350 ha được khởi công xây dựng. Huyện huy động hàng ngàn lao động lên công trường để xây dựng hệ thống kênh mương. Chỉ hơn 100 ngày, đến ngày 19/5/1987, công trình cơ bản hoàn thành và đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, Trạm bơm Bình Sơn không phát huy tốt tác dụng do nguồn nước Đá Bàn cung cấp không đủ và thiếu ổn định. Cùng với biện pháp thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, huyện chú ý giải quyết khó khăn về sức kéo. Bên cạnh sự hỗ trợ của Trạm Máy kéo tỉnh đóng trên địa bàn huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy chủ trương cho các hợp tác xã nông nghiệp chủ động đầu tư mua nhiều máy cày, bừa[6]. Năm 1986, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất mới đạt 15% thì năm 1988 được nâng lên chiếm gần 60% tổng diện tích canh tác. Những năm 1986 - 1988, tình hình cung ứng vật tư nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Riêng phân bón do tỉnh cung ứng cho huyện thường chỉ đạt rất thấp so với chỉ tiêu kế hoạch[7]. Để khắc phục sự thiếu hụt đó, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo không trông chờ cấp trên mà phải chủ động khắc phục. Một mặt, vừa đẩy mạnh liên kết kinh doanh, ưu tiên nhập phân bón, vật tư nông nghiệp về. Mặt khác, khi cần thiết thì ứng trước quỹ dự trữ lương thực của huyện để đổi lấy phân bón, sau sẽ thu hồi trả lại cho quỹ huyện. Ngày 4/1/1988, huyện xuất quỹ gần 200 tấn gạo để đổi 1.200 tấn phân Văn Điển, phục vụ kịp thời vụ đông - xuân. Những biện pháp tích cực nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi để đưa một số tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như về giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật thâm canh… làm tăng đáng kể năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là lương thực, thực phẩm.
Sự kiện nổi bật đánh dấu sự đổi mới trong nông nghiệp huyện là bước chuyển từ “khoán 100” sang khoán theo Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ngày 5/3/1987, huyện tổ chức hội nghị sơ kết công tác khoán sản phẩm theo Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư. Qua hội nghị cho thấy, sau 7 năm (1981 - 1987) thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư, cũng như các địa phương trong tỉnh và cả nước, Ninh Hòa đã tạo ra bước chuyển biến lớn trong nông nghiệp. Phần lớn các hợp tác xã tiếp thu thực hiện cơ chế khoán sản phẩm, bỏ hẳn hình thức khoán việc. Có hợp tác xã từ phân phối chủ yếu bằng hiện vật chuyển sang phương thức trả công lao động bằng tiền; từ phân phối xã viên theo ngày công lao động thực tế, chuyển sang phương thức trả công theo đơn giá công việc hoặc sản phẩm bằng tiền và mua lại lương thực hợp tác xã. Một số hợp tác xã chuyển sang kinh doanh tổng hợp, mở rộng ngành nghề, có tích lũy xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, bước đầu góp phần hình thành một số cụm kinh tế - kỹ thuật ở cơ sở. Song sau 7 năm, “khoán 100” mất dần động lực phát triển và bộc lộ rõ nhiều nhược điểm, không còn phù hợp với thực tiễn. Hiện tượng khê đọng sản phẩm trong xã viên rất khó giải quyết và ngày một tăng[8], vốn tích lũy của hợp tác xã ngày càng giảm xuống. Cơ sở vật chất như nhà kho, sân phơi, chuồng trại chăn nuôi và một số công trình công cộng khác không còn sử dụng nữa nên ngày càng xuống cấp. Chăn nuôi tập thể tan rã dần; năng suất cây trồng tăng chậm lại. Trên 1 ha lúa khoán, Nhà nước chỉ đáp ứng vật tư được 20 - 25% chỉ tiêu, hợp tác xã tự cân đối 40 - 50%, còn lại xã viên tự đầu tư bằng cách mua giá cao ở thị trường tự do, cho nên thu nhập vượt khoán của xã viên thấp dần. Trong nội bộ hợp tác xã, các quỹ sử dụng tùy tiện, nhất là quỹ điều hòa. Có hợp tác xã trích mỗi năm hàng trăm tấn lúa nhưng chủ yếu dùng để bán cho cán bộ xã, các đối tượng chính sách theo giá nội bộ quá thấp, chỉ bằng 10 - 15% giá mua thỏa thuận của Nhà nước. Quỹ công ích phần nhiều chi dùng sai mục đích, sai nguyên tắc như xây cất công trình của xã, đóng góp dân công nghĩa vụ, phục vụ hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể xã, tiếp khách, hiếu hỷ... bình quân 60 - 70 tấn lúa công ích/năm. Bộ máy quản lý hợp tác xã lại cồng kềnh, nhiều nơi có tới 50 - 60 cán bộ kể từ đội sản xuất đến lãnh đạo hợp tác xã, trong đó trên 80% số cán bộ hưởng công gián tiếp. Phần lương thực bao cấp rất nặng nên ở hợp tác xã trung bình, yếu kém, người lao động làm ra lương thực chỉ được hưởng từ 10 - 15%. Bên cạnh đó, tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể ở cơ sở nông thôn nhiều nơi yếu kém, không đủ sức lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội; thiếu kiên quyết và kịp thời xử lý những cán bộ, đảng viên phạm sai lầm, tham ô, tư lợi, ức hiếp quần chúng… cản trở việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Những khuyết, nhược điểm, hạn chế nêu trên làm cho “khoán 100” không còn hấp dẫn với xã viên và xuất hiện tình trạng nông dân trả lại ruộng khoán, xin ra hợp tác xã, đòi lại ruộng đất cũ để làm ăn riêng lẻ.
Từ yêu cầu thực tiễn bức xúc đó, sau hội nghị sơ kết “khoán 100”, không chờ đợi chỉ đạo của cấp trên, sau nhiều cuộc họp thảo luận, Ban Thường vụ Huyện ủy quyết định chỉ đạo thí điểm việc cải cách quản lý mới với một phương thức khoán mới tại Hợp tác xã nông nghiệp Ninh Bình. Đó là phương thức khoán gọn, tức là khoán theo định mức, đơn giá, thanh toán gọn; xóa bỏ hẳn việc chấm công điểm và phân phối theo công điểm. Phương thức khoán gọn khác với “khoán 100” ở chỗ: Vẫn tổ chức khoán 8 khâu trong quá trình sản xuất nhưng không ấn định 5 khâu là của hợp tác xã đảm nhận, 3 khâu là của xã viên đảm nhận, mà ai đảm nhận khâu nào thì được hưởng lợi khâu đó. Đây là quyết định thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và quyết tâm đổi mới của Đảng bộ Ninh Hòa. Quyết định đó là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đã mang hiệu quả rõ nét qua thực hiện thí điểm vụ 3 năm 1988 tại Ninh Bình. Phần lớn các khâu công việc đều được các hộ gia đình xã viên phấn khởi nhận khoán gọn. Tập thể chỉ đảm nhận ít khâu có tính phức tạp và tính khoa học kỹ thuật như các khâu thủy nông, giống, bảo vệ thực vật. Hình thức khoán gọn hợp lý, tiết kiệm chi phí và xã viên chủ động hơn trong sản xuất đã tạo ra động lực mới vượt khoán. Kết quả “đã xóa bỏ một bước cơ bản việc bao cấp tràn lan, hợp tác xã giảm được 60% lao động gián tiếp, xã viên có thu nhập xứng đáng với công sức bỏ ra nên phấn khởi và yên tâm sản xuất hơn”[9].
Ngày 5/4/1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Nghị quyết của Đảng thừa nhận những sai lầm trong mô hình hợp tác xã trước đây, như: Chủ quan, nóng vội, gò ép nhân dân vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất; đưa hợp tác xã lên quy mô lớn khi trình độ quản lý không tương ứng; hợp tác hóa triệt để tư liệu sản xuất trong khi không đủ khả năng quản lý… Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự trì trệ, yếu kém của hợp tác xã nông nghiệp. Từ đó, Nghị quyết công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể, tư nhân; đảm bảo quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể, tư nhân. So với Chỉ thị 100-CT/TW, Nghị quyết 10-NQ/TW thể hiện một bước đột phá mới trong tư duy kinh tế của Đảng: Lần đầu tiên thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, đáp ứng khát khao chờ đợi từ lâu của người nông dân. Nghị quyết thực sự đã “cởi trói” và có ý nghĩa giải phóng sức sản xuất, đem lại sinh khí mới cho nền nông nghiệp nước ta. Vì vậy, mặc dù không có một văn bản nào của Chính phủ thể chế hóa Nghị quyết 10-NQ/TW nhưng chủ trương của Đảng vẫn nhanh chóng đi thẳng vào cuộc sống.
Ngày 27 - 28/6/1988, Huyện ủy tổ chức hội nghị nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết 10-NQ/TW, sau đó nhanh chóng triển khai học tập đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mặc dù chưa có sự hướng dẫn cụ thể của cấp trên, nhưng từ kinh nghiệm khoán gọn ở Hợp tác xã Ninh Bình thấy có nhiều điểm tương đồng với Nghị quyết của Bộ Chính trị, Huyện ủy mạnh dạn chủ trương: Ngay từ vụ 8/1988, tất cả hợp tác xã nông nghiệp trong toàn huyện đều đồng loạt triển khai thực hiện khoán theo đơn giá, thanh toán gọn theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW (còn gọi là “khoán 10”, hay “khoán hộ”). “Khoán 10” xác định rõ hộ nông dân được coi là đơn vị nhận khoán, được giao đất ổn định diện tích khoán 15 năm, mức khoán ổn định 5 năm. Căn cứ vào hạng ruộng đất và sản lượng trung bình 3 năm liền trước đây để xác định mức khoán. Hộ nhận khoán được tự chủ các khâu trong quá trình sản xuất; sản lượng vượt khoán được hưởng 100% và hụt mức khoán phải bù 100%. Do gắn phân phối ngay từ đầu, hộ gia đình biết rõ phần nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước và hợp tác xã nên tích cực đầu tư, thâm canh khai thác tiềm năng đất đai, lao động, vì vậy hầu như không có hộ nào hụt khoán.
Đối với các hợp tác xã thì kiện toàn lại bộ máy quản lý theo hướng giảm mạnh biên chế gián tiếp, ban quản trị có từ 3 - 5 người, ở đội chỉ có đội trưởng, không có đội phó và kế toán đội. Về tư liệu sản xuất, hợp tác xã tiến hành khoán “mất xác” trâu bò và máy cày tiểu cho xã viên (nghĩa là bán thu hồi dần tiền vốn), chỉ giữ lại máy cày đại, sân phơi, nhà kho. Về nhiệm vụ, hợp tác xã chuyển sang làm dịch vụ sản xuất cho nông dân. Các công ty, đơn vị phục vụ sản xuất nông nghiệp đổi mới phương thức kinh doanh, tạo điều kiện cho người nông dân tự do cả đầu vào như vật tư, phân bón… và đầu ra là sản phẩm theo cơ chế “thuận mua vừa bán”. Bộ máy chính quyền huyện, xã thì chuyển sang làm chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, không can thiệp trực tiếp vào hợp tác xã. Nhiệm vụ chủ yếu của ủy ban nhân dân xã là chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị sản xuất xây dựng kế hoạch phù hợp với quy hoạch, kế hoạch chung của xã.
Năm đầu tiên thực hiện “khoán 10” trong toàn huyện đã mang lại kết quả to lớn, góp phần quyết định khắc phục một cách căn bản tình trạng sản xuất lương thực bấp bênh, không ổn định như các năm trước đây. Năm 1988, lần đầu tiên tổng sản lượng lương thực đạt ngưỡng 50.000 tấn, tăng 25% so với năm 1986; diện tích cây công nghiệp và xuất khẩu gần 2.170 ha tăng 27,5% so với năm 1986.
Với nhận thức mới, xét thấy hoạt động các tổ chức kinh tế tập thể nghề cá không có hiệu quả, từ năm 1987 Huyện ủy chủ trương không tiến hành vận động thành lập các hợp tác xã nghề cá nữa; giải thể Hợp tác xã Đầm đăng Ninh Phước, chuyển xuống hình thức tổ đoàn kết sản xuất. Đồng thời chủ trương phát huy hết khả năng các thành phần kinh tế đẩy mạnh chế biến, đánh bắt hải sản. Chủ trương đó bước đầu tạo ra động lực phát triển mới. Năm 1988 có nhiều sản phẩm đạt cao nhất từ trước đến nay như sản lượng đánh bắt cá gần 3.000 tấn, chế biến nước mắm gần 1 triệu lít…, tạo đà cho bước phát triển liên tục của các năm tiếp theo. Trong nuôi trồng, thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đến người lao động, phát huy thế mạnh con tôm, vùng đìa nuôi tôm trong 2 năm 1987 - 1988 mở rộng thêm trên 150ha.
Trong chương trình hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng, huyện quan tâm phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, tạo ra một số sản phẩm mới như đường kết tinh, rượu cồn, thức ăn gia súc, sứa muối phèn xuất khẩu, hóa chất sau muối... làm tăng thêm giá trị hàng hóa nông, lâm, hải sản. Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu đạt giá trị gần 700.000 rúp, tăng 25% so với năm 1986. Vượt qua nhiều khó khăn thử thách, sau khi sản xuất thành công những tấn đường kết tinh đầu tiên trong vụ mía năm 1987 - 1988, Nhà máy Đường Ninh Hòa chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 18/1/1988. Trong 6 tháng đầu năm đã sản xuất gần 500 tấn đường, trên 10.000 lít rượu và cồn công nghiệp. Thành công của Nhà máy Đường đánh dấu bước phát triển gắn kết giữa công nghiệp chế biến và nông nghiệp địa phương, thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển vùng chuyên canh mía, tạo điều kiện thuận lợi mới cho nông nghiệp và nông dân trong huyện ổn định và phát triển, nhất là ở những vùng khô hạn.
Tháng 3/1987, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo Xí nghiệp Gạch ngói huyện làm điểm thực hiện Nghị quyết 306/TLHN (dự thảo), ngày 8/4/1986của Bộ Chính trị về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị cơ sở. Sau đó, Xí nghiệp tiếp tục làm điểm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VI) và Quyết định 217/HĐBT, ngày 14/11/1987của Hội đồng Bộ trưởngvề chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh. Được giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, Xí nghiệp tập trung nguồn vốn sản xuất, kinh doanh những sản phẩm có lãi nên tạo ra bước phát triển mới. Ngay trong 6 tháng đầu năm 1988, Xí nghiệp đạt giá trị tổng sản phẩm tăng hơn 22% so cùng kỳ; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của công nhân được nâng lên rõ rệt. Sau khi rút kinh nghiệm làm điểm, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo triển khai thực hiện Quyết định 217/HĐBT ở tất cả đơn vị kinh tế quốc doanh của huyện. Kết quả bước đầu đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc về cơ chế; tổ chức bộ máy được tinh gọn, biên chế lao động gián tiếp giảm mạnh… tạo điều kiện cho các đơn vị chuyển sang hạch toán kinh doanh. Nhờ đó mà khắc phục được một số khó khăn, ổn định được sản xuất trong khu vực quốc doanh; một số cơ sở có bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VI) về giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông, các công ty chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh, thực hiện linh hoạt các phương thức thu mua nắm nguồn hàng như “mua cao, bán cao”. Tuy nhiên, việc thu mua nắm nguồn hàng gặp nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với kinh tế tư nhân. Để khắc phục khó khăn đó, Ban Thường vụ Huyện ủy chủ trương trưng tập một số đồng chí thuộc cơ quan nhà nước và đoàn thể để thành lập các đoàn, tổ công tác xuống các xã có nguồn hàng tiến hành vận động thu mua, chủ yếu là thu mua lương thực. Sau khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, mở cửa cho xuất khẩu các loại nông sản, huyện đẩy mạnh thu mua hàng nông, lâm, hải sản, tiểu thủ công nghiệp phục vụ xuất khẩu. Kết hợp với các đoàn, tổ công tác, các công ty đưa hàng xuống xã bán trao đổi trực tiếp với nông dân. Nhờ có biện pháp quyết liệt, huyện nắm được một số sản phẩm hàng hoá nội địa và xuất khẩu chủ yếu. Tuy chưa nhiều nhưng đã làm tròn nghĩa vụ cho tỉnh và có sản phẩm đi trao đổi liên kết, góp phần bổ sung thêm nguồn vật tư còn thiếu hụt như phân bón, thuốc trừ sâu, xăng, dầu, sắt thép và hàng tiêu dùng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Năm 1988, giá trị sản phẩm xuất khẩu được gần 3,5 triệu rúp và đô la, tăng 2,5 lần so với năm 1986.
Tài chính, ngân hàng huy động nguồn vốn ngân sách và tiền mặt, bảo đảm được chế độ tiền lương cho cán bộ công nhân viên chức, chính sách thương binh xã hội, và phục vụ tiến độ xây dựng các công trình. Trong 2 năm 1987 - 1988, bằng nguồn vốn tự lực là chủ yếu, toàn huyện đã tiếp tục xây dựng hoàn chỉnh đưa vào sử dụng nhiều công trình, như: Nhà máy Đường, cơ sở chế biến sứa muối phèn, cơ sở chế biến thức ăn gia súc; Bệnh viện Đa khoa huyện, phòng khám bệnh khu vực Ninh Diêm; làm mới gần 40 km kênh cấp 1,2,3; hạ thế điện ở tất cả cơ sở sản xuất công nghiệp và công trình phúc lợi xã hội của huyện và hàng chục công trình khác ở cơ sở như trạm bơm, cầu cống, đường giao thông nông thôn, trạm y tế…
Đổi mới tư duy kinh tế, Huyện ủy chỉ đạo vừa củng cố các đơn vị kinh tế quốc doanh, vừa quan tâm hình thành các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nhằm chuyển dần nền kinh tế huyện từ 2 thành phần kinh tế cơ bản sang nhiều thành phần kinh tế. Trong năm 1988, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo củng cố và thành lập một số đơn vị, như: Sáp nhập Xí nghiệp Thức ăn gia súc, Trại bò và Trại heo giống cấp II của huyện để thành lập Công ty Chăn nuôi; thành lập Xí nghiệp Xây dựng thủy lợi Ninh Hòa trên cơ sở Công trường thủy lợi thủ công Đá Bàn (về sau là Xí nghiệp Thủy nông); thành lập Công ty Dịch vụ sản xuất tổng hợp huyện trên cơ sở Công ty Vật tư huyện... Được tuyên truyền, phổ biến các nghị quyết của Đảng, nhân dân tin tưởng và hưởng ứng thực hiện đường lối đổi mới tạo ra không khí sôi nổi, mạnh dạn “bung ra” làm ăn. Ngoài thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế khác trong huyện bắt đầu xuất hiện. Năm 1988, nhiều gia đình, cá thể, tư nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất và trên 2.000 hộ gia đình đăng ký buôn bán kinh doanh. Hầu hết các sản phẩm hải sản, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là do tư nhân, cá thể và tập thể sản xuất ra cùng với nhiều hoạt động dịch vụ tư nhân góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân. Tuy các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể ban đầu còn rất mỏng và yếu nhưng xu hướng đang hình thành thấy rõ một thế trận mới nhằm khai thác triệt để tiềm năng đất đai, rừng, biển, lao động và kỹ thuật hiện có, phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời sống.
Trong điều kiện khó khăn do đất nước bị lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, những kết quả nêu trên là thắng lợi bước đầu đưa đường lối đổi mới vào cuộc sống trên địa bàn huyện. Thắng lợi đó thể hiện bản lĩnh chính trị và sự năng động, sáng tạo của Đảng bộ Ninh Hòa trong việc vận dụng quan điểm, đường lối chính sách đổi mới của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương. Song, những kết quả đó chưa làm cho kinh tế huyện thoát ra khỏi những khó khăn. 3 chương trình kinh tế lớn còn thiếu những mục tiêu chiến lược, nhất là chương trình hàng xuất khẩu chưa có sản phẩm lớn, chủ lực. Việc thực hiện đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế về cả nhận thức và kết quả. “Khoán 10” cũng như việc chuyển các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa là vấn đề rất mới mẻ, nhưng lại thiếu sự hướng dẫn của các ngành chức năng cấp trên và còn nhiều lúng túng. Nhiều đơn vị quốc doanh yếu kém kéo dài; hợp tác xã nông nghiệp lúng túng về phương hướng nhiệm vụ; chậm và lúng túng giao đất, giao rừng cho tập thể và cá nhân theo chính sách Nhà nước; rừng tiếp tục bị tàn phá nặng. Phần lớn hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp sản xuất bị đình trệ, chủ yếu là do không giải quyết được khó khăn về vật tư, nguyên liệu, có hợp tác xã phải giải thể. Cung cách kinh doanh, phục vụ của các đơn vị thương nghiệp quốc doanh và tập thể không thu hút được nhiều khách hàng và khó mua, khó bán. Các hợp tác xã mua bán và tín dụng hoạt động không chuyển kịp và thích ứng theo cơ chế mới, tiêu cực trong quản lý, bị thua lỗ nên đứng trước nguy cơ phá sản. Công tác cung ứng vật tư, dịch vụ cho sản xuất nông - lâm - công nghiệp còn nhiều tầng nấc trung gian; vật tư “chạy vòng vèo” bị thất thoát, giá cả lộn xộn, thường xuyên thiếu và không kịp thời vụ, gây khó khăn, phiền hà cho cơ sở.
Cùng với đổi mới trên lĩnh vực kinh tế, trong 2 năm 1987 - 1988, sự nghiệp văn hóa - xã hội được Đảng bộ quan tâm xây dựng và phát triển. Trong điều kiện hạn hẹp ngân sách nhưng huyện đã tập trung đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng một số công trình, trả đủ lương cho cán bộ, công nhân viên chức và duy trì được hoạt động trên các lĩnh vực này, nhất là giáo dục, y tế. Đây là cố gắng lớn của toàn huyện. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, toàn huyện xây mới một số trường và điểm trường tiểu học, tu sửa hàng trăm phòng học, tạm đủ trường lớp cho học sinh và chống học ca 3. Ngày 16/7/1988, Bệnh viện Đa khoa huyện khánh thành, đưa vào sử dụng. Bệnh viện thành lập phòng phẫu thuật và đầu tư mua sắm thêm một số vật tư, trang thiết bị kỹ thuật y tế. Nhiều nhà thuốc và cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân được đăng ký hành nghề, bước đầu tạo điều kiện cho nhân dân tự do lựa chọn dịch vụ khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, đây cũng là thời gian giáo dục và y tế trên địa bàn huyện gặp nhiều khó khăn và bộc lộ nhiều yếu kém. Cơ sở vật chất trường lớp, trạm y tế bị xuống cấp. Nhà trẻ, mẫu giáo ở các xã tan vỡ dần. Số lượng học sinh, kể cả học bổ túc văn hóa bỏ học nhiều; giáo viên bỏ nghề có chiều hướng tăng. Chất lượng giáo dục bị giảm sút, kỳ thi tốt nghiệp năm học 1987 - 1988 ở các cấp học đậu tỷ lệ rất thấp, trung học cơ sở đạt 55,1%, trung học phổ thông đạt trên 36%. Trang thiết bị các cơ sở y tế, nhất là trạm xá quá thiếu thốn; đội ngũ bác sĩ rất mỏng, chất lượng khám và điều trị giảm sút. Kết quả đạt được trong phong trào 5 dứt điểm và xây dựng 3 công trình vệ sinh, sinh đẻ có kế hoạch, tiêm chủng mở rộng… đều đạt thấp so với kế hoạch; tỷ lệ tăng dân số cao ở mức 2,3%; tỷ lệ người mắc bệnh trong năm chưa giảm, nhất là bệnh sốt rét.
Trên lĩnh vực văn hóa - văn nghệ, thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo các hoạt động thông tin, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao hướng mạnh về cơ sở. Các xã hình thành một số tụ điểm văn hóa như sân bóng, đây cũng là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, chính trị ở địa phương cơ sở; hình thành thư viện xã hoặc tủ sách… Ở thị trấn còn xây dựng Nhà tưởng niệm Bác Hồ và Công viên Thiếu nhi 19/5. Trong dịp kỷ niệm các ngày lễ, tết cổ truyền dân tộc hoặc có các sự kiện chính trị lớn, tuy khó khăn về kinh phí nhưng với sự đóng góp công sức của nhân dân, toàn huyện lại dấy lên các hoạt động văn hóa sôi nổi, nhất là phong trào giao lưu thể thao và văn nghệ quần chúng giữa các xã. Ngoài ra, huyện mời nhiều đoàn nghệ thuật của các tỉnh và thành phố về biểu diễn được đông đảo nhân dân hoan nghênh, đón xem. Các hoạt động tuyên truyền thông qua hệ thống đài truyền thanh và các đội thông tin cổ động từ huyện đến cơ sở được duy trì, phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương.
Mặc dù duy trì được các hoạt động văn hóa, văn nghệ nhưng nhìn chung các phong trào đều giảm sút so với trước, hầu hết các thiết chế văn hóa xuống cấp. Từ năm 1985, trong huyện bắt đầu xuất hiện phim video - một loại hình giải trí mới hấp dẫn. Các năm tiếp theo số lượng máy video trong huyện tăng nhanh[10]. Trước sức hút mới lạ, loại hình kinh doanh chiếu phim video ra đời và phát triển rất nhanh. Phim video hầu hết là của Hồng Kông, Đài Loan và các nước tư bản khác. Nội dung video rất đa dạng, phong phú mang đến cho nhân dân thụ hưởng loại hình văn hóa mới, hiện đại. Tuy nhiên cũng xuất hiện một số lệch lạc trong kinh doanh văn hóa phẩm. Một số hoạt động dịch vụ vì lợi nhuận mà chạy theo thị hiếu thẩm mỹ thấp kém. Nhiều phim ảnh “ngoài luồng” có nội dung xấu, thiếu lành mạnh, nhất là các loại băng video “đen” có nội dung bạo lực, khiêu dâm ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục. Trong khi đó công tác quản lý nhà nước về văn hóa chưa chuyển kịp theo tình hình mới, có phần buông lỏng nên gây ra nhiều lộn xộn trong kinh doanh loại hình video.
Trước tình hình đó, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy về phát động các đợt truy quét các sản phẩm giải trí có tính chất phản động, đồi trụy trong toàn tỉnh, cuối năm 1988, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo chấn chỉnh các hoạt động dịch vụ văn hóa; thành lập một số đoàn kiểm tra kinh doanh văn hóa phẩm. Qua kiểm tra đã thu và xử lý hàng nghìn băng hình, băng nhạc, tranh ảnh, sách, báo… có nội dung xấu, đồng thời tổ chức, sắp xếp, chấn chỉnh lại việc chiếu phim video và kinh doanh băng hình của các hộ và đại lý. Công ty Chiếu bóng huyện và các tổ chức, cá nhân chiếu video với nội dung chưa được kiểm duyệt, “ngoài luồng” cũng được xử lý nghiêm khắc.
Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, tình hình quốc phòng - an ninh diễn biến khá phức tạp. Đầu năm 1988, Trung Quốc đưa quân gây xung đột và xâm chiếm một số đảo thuộc huyện Trường Sa, vi phạm trắng trợn chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước ta. Trong huyện, cũng như trong tỉnh xuất hiện hiện tượng không bình thường như: Người ăn xin, rượu chè, cờ bạc bê tha, gái mại dâm xuất hiện nhiều nơi và có chiều hướng tăng lên; trật tự trị an không tốt ở những nơi tập trung đông người như chợ, bến tàu, bến xe, tụ điểm văn hóa; tình hình trộm cắp, cướp giật, gây gỗ đánh nhau… Trước tình hình đó, thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VI) về công tác quốc phòng và Nghị quyết số 07-NQ/TW về công tác bảo vệ an ninh, các lực lượng vũ trang trên địa bàn huyện phối hợp chặt chẽ bảo vệ vững chắc các mục tiêu chính trị, kinh tế quan trọng và địa bàn xung yếu, nhất là tuyến 11 xã ven biển. Quán triệt quan điểm phát triển kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, huyện chú ý gắn với việc xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng công an và an ninh nhân dân. Trên cơ sở đó, từng bước tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân và tuyến phòng thủ huyện trong khu vực phòng thủ của tỉnh. Các hoạt động quốc phòng - an ninh đều tập trung hướng về cơ sở, nêu cao cảnh giác cách mạng làm thất bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo xây dựng kế hoạch sẵn sàng chiến đấu và chi viện sức người, sức của, góp phần đấu tranh bảo vệ huyện đảo Trường Sa của Tổ quốc; xây dựng kế hoạch phản gián, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ an ninh, bảo vệ sản xuất… Tất cả các xã, thị trấn, các công trình lớn, các cơ sở kinh tế, văn hoá - xã hội đều có kế hoạch chuẩn bị chuyển hướng hoạt động từ thời bình sang thời chiến khi có chiến tranh. Theo hướng coi trọng nâng cao chất lượng, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở, các xã và thị trấn tiến hành rà soát làm trong sạch bước đầu lực lượng dân quân tự vệ[11], đồng thời biên chế thành các lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu với số lượng chiếm gần 4,1% dân số. Hàng năm, lực lượng này được huấn luyện và luân phiên tổ chức diễn tập phòng thủ. Đối với lực lượng dân quân thường trực, huyện chủ trương miễn nghĩa vụ quân sự và lao động nghĩa vụ nhằm nâng cao chất lượng và ổn định lực lượng này từ 3 - 5 năm. Trong lực lượng công an từng bước tinh giảm biên chế, kiện toàn, củng cố tổ chức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới. Các ngành nội chính phối hợp thực hiện nhiều biện pháp đấu tranh ngăn ngừa và chống tội phạm hình sự; tích cực giải quyết và xử lý nghiêm minh phần lớn các vụ việc theo pháp luật.
Hưởng ứng “Những việc cần làm ngay” của tác giả N.V.L[12] đăng trên báo Nhân dân, Chỉ thị số 18-CT/TU ngày 10/7/1987 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về giải quyết các vụ việc cần làm ngay, ngày 27/8/1987, Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Quyết định số 10-QĐ/HU thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 18-CT/TU do đồng chí Nguyễn Bá Cường, Phó Bí thư Huyện ủy làm Trưởng ban. Đồng thời xây dựng chương trình “Những việc cần làm ngay”, trong đó xác định 10 vụ việc tiêu cực xảy ra trong các đơn vị kinh tế nhà nước, tập thể và việc giải quyết đơn thư khiếu tố của dân là những vụ việc cần tập trung chỉ đạo làm ngay. Nhiều vụ việc đã được giải quyết dứt điểm như vụ tiêu cực ở Hợp tác xã Nông nghiệp Ninh Hưng, Cửa hàng mua bán Dục Mỹ… qua đó, giáo dục cán bộ, đảng viên giữ gìn phẩm chất đạo đức, góp phần ngăn ngừa tiêu cực xảy ra.
Tuy nhiên, tình hình quốc phòng - an ninh vẫn còn nhiều khó khăn, phức tạp. Số thanh niên không chịu đăng ký, chống khám, chống lệnh nghĩa vụ quân sự, số quân nhân lánh ngũ, đào ngũ còn nhiều, gây nhiều trở ngại trong công tác tuyển quân[13]. Trật tự trị an trên địa bàn huyện tiếp tục có những diễn biến xấu. Tội phạm hình sự không giảm, xảy ra trên nhiều lĩnh vực và tính chất nghiêm trọng hơn, như vụ côn đồ ném lựu đạn vào bãi diễn do Đoàn Cải lương tỉnh Hậu Giang diễn ở xã Ninh Diêm làm 5 người chết, 28 người bị thương và gây ra thiệt hại về nhiều mặt, làm cho tâm trạng nhân dân bất bình, lo lắng. 2 năm 1987 -1988 xảy ra 360 vụ hình sự, trong đó 10 vụ trọng án, 77 vụ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; xảy ra 31 vụ vượt biên trốn ra nước ngoài, trong đó đã ngăn chặn, bắt phá 21 vụ. Đơn thư tố cáo, khiếu nại của dân cũng có chiều hướng gia tăng, nổi lên là đơn thư khiếu nại đòi lại ruộng đất của nông dân[14].
Trong hai năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra, Đảng bộ và nhân dân toàn huyện đã cố gắng vượt qua khó khăn trong sản xuất và đời sống, đấu tranh chống tiêu cực, giữ vững kỷ cương, pháp luật Nhà nước. Một số chính sách đổi mới đã từng bước tháo gỡ được một số khó khăn trong sản xuất, được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Nhưng trên địa bàn huyện chưa thực hiện được mục tiêu 4 giảm (giảm tỉ lệ bội chi ngân sách, giảm nhịp độ tăng giá, giảm tốc độ lạm phát, giảm khó khăn về đời sống của nhân dân lao động) do Hội nghị Trung ương 2 (khóa VI) đề ra. Tình hình sản xuất và phân phối lưu thông tiếp tục diễn biến phức tạp, giá cả tiếp tục tăng mạnh, đồng tiền mất giá, lạm phát trầm trọng, đời sống nhân dân tiếp tục diễn biến xấu, khó khăn kéo dài... Tình hình đó tác động xấu tới tư tưởng và tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân lao động. Tư tưởng và tâm trạng xã hội diễn biến phức tạp, gay gắt, nặng nề và có những quan điểm, nhận thức về tình hình thực tế khác nhau. Tâm trạng day dứt nhất có tính phổ biến, kéo dài là bức xúc về đời sống nhân dân… Để tự giải quyết khó khăn trong cuộc sống, biểu hiện chung trong các tầng lớp là đi buôn và làm dịch vụ thương nghiệp cá thể dưới bất cứ hình thức nào, nghề nào và ở đâu. Cả xã hội cùng ăn chia nhau bằng chênh lệch giá, gây nên tình trạng tranh mua, tranh bán lộn xộn. Một số ít cán bộ, đảng viên và nhân dân do tích tụ dài ngày thái độ bực bội, bất bình nên có biểu hiện bất mãn, căng thẳng, nhất là về công tác tổ chức và cán bộ, về chống tiêu cực. Có thời điểm như chuẩn bị bầu cử hội đồng nhân dân, đại hội đảng bộ các cấp… dư luận chung nặng nề, phức tạp. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lo ngại, băn khoăn, sa sút ý chí và nhiệt tình cách mạng. Tình hình mất đoàn kết xuất hiện ở một số đơn vị mang nhiều phức tạp mới.
Trước tình hình đó, Đảng bộ đẩy mạnh công tác tư tưởng, chú trọng việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội VI và các nghị quyết, quyết định quan trọng của Đảng và Nhà nước, tạo sự đoàn kết, nhất trí, đồng tình trong toàn Đảng bộ. Công tác tư tưởng của Đảng bộ nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Nổi bật là đạt được sự nhất trí cao trong nhận thức rất mới của cán bộ, đảng viên về: Phương hướng đẩy mạnh sản xuất hàng hóa gắn với với thị trường; đưa mọi hoạt động kinh tế chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, so sánh chi phí với hiệu quả; các tổ chức và đơn vị kinh tế phải tự bù đắp chi phí và có lãi để tái sản xuất mở rộng; về khắc phục mô hình xây dựng nền kinh tế theo hướng tự bảo đảm, tự cung - tự cấp trên địa bàn huyện trước đây, chuyển sang mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; chống tập trung quan liêu bao cấp, mở rộng giao lưu, liên kết kinh tế và xuất khẩu…
Những nhận thức mới nêu trên là đột phá quan trọng về tư tưởng. Trên cơ sở đó tạo được sự đoàn kết nhất trí trong Đảng bộ, tập trung lãnh đạo tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật; quyết tâm thực hiện đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới tổ chức cán bộ theo nghị quyết của Đảng. Mở rộng dân chủ, nói thẳng, nói thật đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật, Ban Thường vụ Huyện ủy tổ chức và chỉ đạo các cấp ủy tổ chức các buổi gặp mặt cán bộ cách mạng lão thành, cán bộ hưu trí để cung cấp tình hình trong huyện, trao đổi thông tin, nghe góp ý, phê bình xây dựng Đảng. Ngày 30/7/1987, lần đầu tiên Ban Thường vụ Huyện ủy tổ chức trọng thể lễ trao Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng cho 10 đồng chí đảng viên theo Thông tri số 41-TT/TW, ngày 21/5/1985 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 130-QĐ/TU, ngày 16/3/1987 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Việc trao tặng huy hiệu Đảng cho các đồng chí đảng viên lâu năm là một sự kiện quan trọng, ghi nhận công lao đóng góp trong suốt quá trình phấn đấu, rèn luyện của đồng chí đảng viên lâu năm. Đây là nguồn động viên to lớn, góp phần ổn định tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng.
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12/9/1987 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 251-KH/TU ngày 24/11/1987 của Tỉnh uỷ về thực hiện “Cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội”, Ban Thường vụ Huyện ủy đề ra kế hoạch triển khai thực hiện và ra Quyết định số 12-QĐ/HU, ngày 5/3/1988 thành lập Ban Chỉ đạo Cuộc vận động do đồng chí Trần Việt Á, Bí thư Huyện ủy làm Trưởng ban. Đây là cuộc vận động lớn tiến hành trong suốt nhiệm kỳ Đại hội lần thứ 6 của Đảng nhằm phục vụ công cuộc đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội. Theo kế hoạch của Huyện ủy, tất cả tập thể lãnh đạo, cá nhân cấp ủy viên từ huyện đến cơ sở và đảng viên đều phải kiểm điểm nghiêm túc. Việc kiểm điểm được Ban Thường vụ Huyện ủy lãnh đạo chặt chẽ, kiên quyết, thận trọng. Sau khi rút kinh nghiệm làm điểm ở các đảng bộ xã Ninh Đa, Ninh Bình, Ninh Hưng và Xí nghiệp Gạch ngói Ninh Hòa, các cấp ủy đồng loạt triển khai trong toàn Đảng bộ. Trong quá trình thực hiện, cuộc vận động trong Đảng, trong cơ quan nhà nước được gắn chặt với cuộc vận động ngoài xã hội; gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị; kết hợp tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên với việc phát động quần chúng tham gia ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền theo tinh thần lấy dân làm gốc, tin dân và dựa vào dân.
Qua thực hiện cuộc vận động, những biểu hiện tiêu cực trong nội bộ Đảng bị đấu tranh phê phán mạnh nên góp phần tạo ra sự chuyển biến tích cực bước đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền. Nhiều tập thể cấp ủy và cán bộ, đảng viên thấy và khắc phục được khuyết điểm, giải quyết được một số vướng mắc về tác phong và lề lối làm việc, thúc đẩy việc xử lý các vụ tiêu cực tồn đọng lâu nay, bước đầu khơi dậy không khí dân chủ, quần chúng nhân dân tin tưởng hơn. Cuối năm 1988, Đảng bộ có 72 chi, đảng bộ cơ sở, trong đó có 26 chi đảng bộ trong sạch, vững mạnh và còn 6 chi, đảng bộ yếu kém. Tổng số đảng viên là 1.510, tăng 15,4% so với 1986, trong đó có 92,6% đảng viên đủ tư cách, 7,4% vi phạm tư cách và không đủ tư cách. 2 năm 1987 - 1988, đã xử lý 96 trường hợp đảng viên vi phạm, trong đó khiển trách 18, cảnh cáo 34, cách chức 6, xóa tên 21, khai trừ 17.
Để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đáp ứng yêu cầu tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng bộ đặc biệt quan tâm đổi mới công tác tổ chức bộ máy và cán bộ, nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền. Quán triệt chỉ thị của Tỉnh ủy về chỉ đạo cuộc bầu cử Quốc hội khóa VIII và bầu cử hội đồng nhân dân hai cấp huyện và xã, Đảng bộ lãnh đạo cuộc bầu cử diễn ra thành công, đúng luật, an toàn và tiết kiệm vào ngày 19/4/1987[15]. Hội đồng nhân dân huyện khóa V được bầu ra, gồm 57 đại biểu. Trong kỳ họp thứ nhất, Hội đồng bầu đồng chí Bùi Thanh Lâm, Phó Bí thư Huyện ủy làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện; bầu 2 đồng chí: Phạm Đài, Phó Bí thư Huyện ủy và Hồ Bá Chiến, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện; bầu đồng chí Văn Tấn Phục làm Ủy viên Thư ký Ủy ban nhân dân huyện.
Quán triệt Thông tri số 11-TT/TW, ngày 19/8/1987 của Ban Bí thư và Quyết định số 58-QĐ/TU, ngày 13/4/1988 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sắp xếp lại tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, nhà nước và đoàn thể, Huyện ủy xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách cần tập trung lãnh đạo. Ngày 25/11/1987, Ban Thường vụ Huyện ủy thành lập Ban Chỉ đạo sắp xếp lại tổ chức bộ máy huyện do đồng chí Trần Việt Á, Bí thư Huyện ủy làm Trưởng ban. Do các bước tiến hành chặt chẽ, làm tốt công tác tư tưởng nên nhận thức của các cấp, các ngành đều thấy rõ tính cấp bách và sự cần thiết phải giải quyết vấn đề tổ chức và cán bộ, vì vậy đã tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện. Việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy được tiến hành nhanh gọn, có sự đoàn kết thống nhất cao. Ngày 7/6/1988, Ủy ban nhân dân huyện ra Quyết định số 228/QĐ-UB về xác định tổ chức bộ máy và biên chế các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện, từ 25 phòng, ban trước đây giảm xuống còn 10 phòng, ban[16] (không kể 4 cơ quan là Ngân hàng, Bưu điện, Công an và Huyện đội lúc đó được xác định là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện nhưng con người là do ngành dọc quản lý và quyết định). Bước đầu đã giảm được đầu mối tổ chức, bỏ bớt cấp trung gian, giảm bớt cấp phó, chuyển một bộ phận cán bộ sang làm việc theo chế độ cán sự, chuyên viên. Đến tháng 10/1989, theo chủ trương của Ban Thường vụ Huyện ủy mới chuyển tất cả các phòng, ban tham mưu sang làm việc theo hình thức chuyên viên, giúp Ủy ban huyện quản lý nhà nước theo đúng chức năng, nhiệm vụ. Trên cơ sở giảm được số lượng ban, phòng, đội ngũ cán bộ được củng cố nâng cao chất lượng thông qua tinh giảm biên chế. Số biên chế dôi ra được giải quyết bằng nhiều hình thức: Giải quyết chính sách nghỉ hưu, điều chuyển công tác theo yêu cầu của các công ty, xí nghiệp, cử đi đào tạo, tăng cường cho cơ sở, tự nguyện xin thôi việc… Tư tưởng của số đông cán bộ được bố trí lại cơ bản là nhất trí, thông suốt và nghiêm chỉnh chấp hành. Trong việc bố trí cán bộ, Ban Thường vụ Huyện ủy chú ý điều chuyển giữa huyện và cơ sở, giữa cơ quan hành chính, sự nghiệp và đơn vị kinh tế, bảo đảm vừa tăng cường cho cơ sở vừa bảo đảm chất lượng hoạt động của cấp huyện. Đây là một cố gắng của việc đổi mới công tác cán bộ, bố trí cán bộ theo yêu cầu công tác của huyện. Đối với bộ máy các cơ quan tham mưu trực thuộc Huyện ủy và các đoàn thể huyện cơ bản vẫn giữ nguyên, chủ yếu kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.
Sau khi sắp xếp, các cơ quan đơn vị xác định lại chức năng, nhiệm vụ và sửa đổi quy chế làm việc, tạo ra nhiều chuyển biến trong việc thực hiện đúng chức năng quản lý hành chính - kinh tế của mình. Đồng thời, từng bước làm rõ thêm vai trò lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với ủy ban nhân dân, các đoàn thể và các đơn vị kinh tế. Nhìn chung, bộ máy mới đi vào hoạt động bước đầu có hiệu quả. Đội ngũ cán bộ được trẻ hóa, trình độ các mặt được nâng lên một bước. Tổng số cán bộ hành chính, sự nghiệp, kinh tế trong toàn huyện có nghiệp vụ chuyên môn từ trung cấp trở lên là 1.536 cán bộ, trong đó có 78 đại học. Tổng số cán bộ lãnh đạo hành chính, sự nghiệp cấp huyện từ trưởng, phó phòng, ban trở lên là 63; tổng số cán bộ quản lý kinh tế từ phó giám đốc, giám đốc là 44. Sau khi bố trí lại, một số cán bộ phát huy tốt năng lực sở trường, có trình độ, năng lực điều hành theo cơ chế quản lý mới. Nhiều cán bộ thể hiện tư duy mới, năng động, tận tụy, nhiệt tình với công việc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, biết làm ăn có hiệu quả.
Với tầm nhìn chiến lược, Huyện ủy chủ động, tích cực chỉ đạo công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, kiên quyết cử cán bộ lần lượt thay nhau đi học tại các trường do tỉnh và Trung ương mở. Hai năm 1987 - 1988, có trên 100 cán bộ lãnh đạo và quản lý đi học trung, cao cấp chính trị, 24 cán bộ học đại học. Trường Đảng huyện liên tục mở lớp đào tạo bồi dưỡng được 130 cán bộ có trình độ lý luận sơ cấp. Ngoài ra, huyện còn gửi đi đào tạo 120 công nhân bậc 3 cho Nhà máy Đường, hàng chục cán bộ kỹ thuật quản lý thủy nông cấp huyện và xã… Chính nhờ quan tâm và chủ động công tác đào tạo cán bộ trong những năm 1987 - 1988 nên nhiều năm sau này, huyện không những không bị hẫng hụt trong việc bố trí cán bộ mà còn là địa phương cung cấp nhiều cán bộ cho tỉnh.
Nhận thức sâu sắc bài học “lấy dân làm gốc”, công tác quần chúng của Đảng bộ có sự chuyển hướng mạnh theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”. Quan hệ giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng được tăng cường. Phần lớn các cấp ủy làm việc có nền nếp với cán bộ chủ chốt các đoàn thể để bàn bạc những vấn đề có liên quan đến quần chúng. Ban Thường vụ Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện và các cơ quan cấp huyện thường xuyên phân công cán bộ chủ chốt xuống cơ sở tiếp xúc với quần chúng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân. Gắn công tác xây dựng Đảng, chính quyền với công tác quần chúng, các cấp ủy thường xuyên tổ chức cho quần chúng tham gia phê bình, góp ý kiến cho cán bộ, đảng viên và nhân viên nhà nước. Các chủ trương lớn của huyện có liên quan đến lợi ích của dân được đưa ra dân bàn bạc, thảo luận. Hoạt động của các ngành kinh tế - xã hội có bước chuyển biến bước đầu theo quan điểm “lấy dân làm gốc”, quan tâm hơn đến lợi ích của người dân. Hàng năm, cơ quan, xí nghiệp mở hội nghị công nhân viên chức, hợp tác xã mở đại hội xã viên... phát huy quyền làm chủ của đông đảo quần chúng tham gia xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội... Các thủ tục giấy tờ, đơn thư khiếu tố của dân được giải quyết nhanh hơn. Năm 1988, Ban Thanh tra huyện và các ngành đã tham mưu và giải quyết được 68,4% đơn thư khiếu tố của dân. Công tác tiếp dân đi dần vào nền nếp, từ năm 1988 phân công đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện có lịch trực tiếp tiếp dân.
Để đáp ứng yêu cầu công tác quần chúng trong tình hình mới, Đảng bộ quan tâm củng cố mặt trận và đoàn thể các cấp. Nội dung và phương thức hoạt động của mặt trận và các đoàn thể có một số đổi mới bước đầu nhằm nâng cao hiệu quả tập hợp, giáo dục, vận động quần chúng tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội ở địa phương. Hướng mạnh về cơ sở, các đoàn thể, mặt trận đi sâu vào từng loại đối tượng quần chúng để tuyên truyền, khơi dậy tinh thần cách mạng, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi. Hoạt động của Mặt trận nổi bật là vận động nhân dân, các đối tượng nhân sĩ, trí thức, tôn giáo... góp phần tích cực trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa VIII và hội đồng nhân dân 2 cấp huyện và xã; vận động mua công trái xây dựng Tổ quốc; góp vốn xây dựng công trình phúc lợi ở địa phương. Công đoàn, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát huy tính chủ động sáng tạo, tăng cường vận động các tầng lớp nhân dân trong huyện nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng. Đáng chú ý là các phong trào làm thủy lợi, thâm canh trong nông nghiệp, phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, chống tiêu cực... Đặc biệt, toàn huyện dấy lên phong trào vì Trường Sa thân yêu, sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho Trường Sa. Ngày 29/3/1988, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo lập quỹ vì Trường Sa của huyện; Ủy ban nhân dân huyện ra lời kêu gọi toàn dân, toàn quân trong huyện lao động 1 ngày chi viện cho Trường Sa. Các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hưởng ứng sôi nổi, quyên góp, tặng quà, viết thư… động viên chiến sĩ và đồng bào Trường Sa bảo vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Tuy trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể đạt được những tiến bộ nhất định theo tinh thần đổi mới nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nhận thức về các quan điểm đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra mới chỉ là bước đầu. Nhiều nhận thức cũ khác hẳn so với quan điểm mới vẫn còn ăn sâu trong tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên đòi hỏi cần phải có thời gian và thực tiễn kiểm chứng mới có thể thay đổi được. Khả năng cụ thể hóa nghị quyết của Đảng của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và năng lực của cán bộ chưa nâng lên và chuyển kịp với yêu cầu đổi mới. Cách làm việc nhiều nơi vẫn theo cơ chế cũ, nặng kinh nghiệm chủ nghĩa. Trong công tác tư tưởng, việc theo dõi nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội, góp phần giải quyết những vấn đề mới nảy sinh chưa kịp thời, nhạy bén. Quá trình đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức công tác tư tưởng tuy có sự chú ý trên một số mặt, nhưng nhìn chung vẫn chuyển biến chậm so với thực tiễn và kém hiệu quả. Không ít cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm, lập trường tư tưởng thiếu vững vàng trước những khó khăn, nói và làm không phù hợp với nghị quyết của Đảng. Một số thoái hóa, biến chất, xoay xở cho lợi ích cá nhân, vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trong công tác sắp xếp lại bộ máy mới, đi sâu vào nội dung còn nhiều vướng mắc trong quan hệ, lề lối làm việc cũng như trong tư tưởng chưa được tháo gỡ và làm rõ. Bộ máy hành chính tuy đã được tổ chức lại nhưng một số đơn vị hiệu quả hoạt động chưa cao, có nơi sau khi nhập lại không mạnh hơn bộ máy cũ, nội bộ thiếu đoàn kết. Nhiều nơi chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên. Chưa phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ máy các đơn vị sản xuất kinh doanh và hợp tác xã còn cồng kềnh, một số trường hợp vi phạm khuyết điểm trong quản lý, làm ăn thua lỗ, thâm hụt tiền vốn, vật tư. Đội ngũ cán bộ thiếu cán bộ quản lý, kinh doanh và khoa học kỹ thuật giỏi. Trong bố trí cán bộ có một số trường hợp điều chuyển nhiều lần hoặc vì yêu cầu bức xúc bố trí chưa theo đúng ngành nghề, hoặc chưa thực hiện đúng dân chủ hóa nên phát sinh tư tưởng, thiếu yên tâm công tác. Trong công tác quần chúng còn lúng túng đổi mới về nội dung và phương thức công tác theo quan điểm “lấy dân làm gốc”, “tất cả do dân và vì dân”.
Đại hội Đảng bộ huyện Ninh Hòa lần thứ 12, nhiệm kỳ 1989 - 1991
Từ sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 4, tình hình trong tỉnh có nhiều diễn biến phức tạp. Bên cạnh những kết quả đạt được, trước yêu cầu phát triển của công cuộc đổi mới, những mặt hạn chế do hợp nhất hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên để thành lập tỉnh Phú Khánh đã bộc lộ rõ nét. Một số nơi trong Đảng bộ tỉnh xảy ra tình hình mất đoàn kết nghiêm trọng, làm cho quần chúng lo ngại và giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng bộ. Vượt qua tác động tiêu cực của tình hình nêu trên, Đảng bộ Ninh Hòa giữ vững sự đoàn kết, thực hiện tốt Chỉ thị 37-CT/TW, ngày 17/5/1988 của Ban Bí thư về đại hội đảng bộ cơ sở và cấp trên trực tiếp cơ sở. Từ ngày 20 - 23/1/1989, tại Trường Đảng huyện đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ Ninh Hòa lần thứ 12, nhiệm kỳ 1989 - 1991. Về dự Đại hội có 160 đại biểu chính thức, đại diện cho 1.510 đảng viên và 72 chi, đảng bộ cơ sở trong toàn Đảng bộ. Đại hội tập trung kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 11 và đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ đến năm 1990. Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa XII gồm 39 đồng chí, trong đó 35 Ủy viên chính thức và 4 Ủy viên dự khuyết. Tối 22/1/1989, Ban Chấp hành họp phiên đầu tiên bầu Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 11 đồng chí; bầu đồng chí Trần Việt Á, Tỉnh ủy viên làm Bí thư Huyện ủy; bầu hai đồng chí là Nguyễn Bá Cường và Bùi Thanh Lâm làm Phó Bí thư Huyện ủy; bầu Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy gồm 7 đồng chí.
Với tinh thần đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, về đánh giá tình hình hơn 2 năm (1986 - 1988), Đại hội khẳng định: Nhờ toàn Đảng bộ đoàn kết, có bước đổi mới tư duy, mạnh dạn vận dụng sáng tạo nghị quyết của cấp trên để đề ra chủ trương phù hợp với tình hình của huyện và có quyết tâm cao nên “trong tình hình khó khăn chung, còn có những quan điểm đánh giá vấn đề khá phức tạp nhưng chúng ta đã đạt được những kết quả trong thế đi lên, tạo tiền đề ban đầu để tiếp tục phát triển…”[17]. Đại hội chỉ ra những khuyết điểm lớn, đó là: Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế chưa mạnh và đều trong các đơn vị, năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, cá thể chưa thực sự được giải phóng. Khối lượng sản phẩm làm ra chưa tương xứng với tiềm năng. Văn hoá xã hội và trật tự an toàn xã hội có những mặt sút kém, kỷ cương, pháp luật chưa nghiêm. Trong giải quyết công việc và trong sinh hoạt của một số cán bộ lãnh đạo vi phạm kỷ cương, kỷ luật, vi phạm dân chủ, gây mất lòng tin của dân. Đời sống nhân dân nói chung vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ quan chủ yếu của khuyết điểm là do công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng bộ cũng như chức năng, nhiệm vụ của chính quyền chưa đổi mới kịp theo sự phát triển mới của tình hình thực tế ở địa phương. Về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ đến năm 1990, Đại hội nhấn mạnh phải thực hiện thắng lợi ba chương trình kinh tế, với các chỉ tiêu phấn đấu: Lương thực đạt 55.000 tấn quy thóc, hình thành 800 ha mía tập trung, 500 ha thuốc lá; giữ và xây dựng được vốn rừng, coi trồng rừng và bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng tâm; đưa diện tích đìa nuôi tôm lên 1.000 ha, đánh bắt 5.000 tấn cá, sản xuất 35.000 tấn muối, 2 triệu lít nước mắm; sản xuất 1.000 tấn đường kết tinh, 25 triệu viên gạch, ngói; giá trị sản phẩm xuất khẩu đạt 2,5 triệu rúp và đô la.
Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 13, tình hình chung trong huyện chịu sự tác động mạnh bởi tình hình trong nước, trong tỉnh, đặc biệt là sự biến động lớn về chính trị đang diễn ra trên thế giới. Một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ; Đảng Cộng sản Liên Xô chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, Liên bang Xô viết lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội trầm trọng và đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ở trong nước, mặc dù công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu bước đầu chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn nhưng nước ta vẫn đứng trước những thách thức mới cả về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và xây dựng Đảng. Một số quan điểm chính trị sai trái xuất hiện như đòi đa nguyên, đòi đa đảng tác động tiêu cực đến đời sống chính trị. Nạn tham nhũng có xu hướng phát triển gây nhiều bất bình, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đạo đức xã hội bị xuống cấp, báo hiệu sự suy thoái nghiêm trọng. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước gia tăng tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống đối Đảng, Nhà nước, nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta càng làm cho tình hình chính trị xã hội phức tạp thêm. Tình hình trong tỉnh có sự thay đổi lớn. Kể từ ngày 1/7/1989, tỉnh Khánh Hòa được tái lập theo Quyết định số 83-QĐ/TW, ngày 4/3/1989 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa VIII ngày 30/6/1989 về tách tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Việc tái lập tỉnh có ý nghĩa to lớn, tạo nhiều điều kiện thuận lợi mới đối với sự phát triển của tỉnh Khánh Hòa nói chung và huyện Ninh Hòa nói riêng.
Trong bối cảnh đó, toàn Đảng bộ khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 12 bằng các chương trình, kế hoạch cụ thể, lãnh đạo nhân dân nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách đổi mới của Đảng.
Hình thành bước đầu nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thực hiện thắng lợi ba chương trình kinh tế lớn.
Từ vụ 3/1989, tất cả hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp trong huyện đều thực hiện “khoán 10” đối với tất cả các loại cây trồng, vật nuôi, ngành nghề, đìa nuôi tôm. Với động lực mới, nông dân phấn khởi giải phóng sức sản xuất, yên tâm bỏ vốn đầu tư như mua sắm thêm máy cày tiểu, máy bơm nhỏ, trâu bò cày kéo và nhiều loại tư liệu phục vụ sản xuất. Công tác thủy lợi tiếp tục được quan tâm đúng mức. Toàn huyện xây dựng thêm hàng chục công trình thủy lợi nhỏ như trạm bơm điện, đập chứa nước, các công trình trên kênh Đông, kênh Tây của hệ thống thủy lợi Đá Bàn; tu sửa hệ thống kênh và đập tràn chính Suối Trầu; xây thêm các đập ngăn mặn ở Ninh Phú, Ninh Quang, Ninh Ích… góp phần đưa tổng diện tích gieo trồng lúa 2 vụ được tưới chắc năm 1991 tăng lên 11.600ha. Các xã tích cực xây dựng, nạo vét kênh mương nội đồng, cải tạo đồng ruộng, chuyển 1.000ha ruộng lúa 1 vụ thành lúa 2 vụ. Riêng xã Ninh Tây, huyện đầu tư xây dựng hồ chứa nước Buôn Lác, 2 đập thủy lợi nhỏ Buôn Tương và Buôn Đung theo tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Để phục vụ nhu cầu phát triển chung, trước hết là mở rộng sản xuất nông nghiệp, Huyện ủy chỉ đạo khẩn trương xây dựng, tu sửa, nâng cấp hệ thống đường sá, cầu cống nông thôn[18]. Nhiều cầu lớn được xây dựng như cầu Hội Phú (Ninh Phú), cầu Ninh Hưng, cầu Ninh Sim… Một số ngành nhất là thủy lợi, cung ứng vật tư kịp thời chuyển theo cơ chế mới, đưa các hoạt động dịch vụ thủy nông, dịch vụ vật tư nông nghiệp xuống tận nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích...
Điểm nhấn quan trọng trong chỉ đạo phát triển kinh tế của Huyện ủy thời gian 1989 - 1991 là định hình khá rõ nét 4 vùng kinh tế theo quy hoạch chung của huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tiềm năng tốt hơn và đưa sản xuất nông nghiệp từng bước đi vào thế ổn định và phát triển. Kết quả phát triển trên cả 4 vùng khá đồng đều. Trên vùng lúa, năm 1991 có gần 5.000ha canh tác 2 vụ với năng suất cao từ 42 - 45 tạ/ha/vụ, trong đó diện tích cao sản đạt từ 60 -
70 ta/ha/vụ. Vật nuôi chính là đàn heo trên 21.000 con, đàn trâu 6.000 con và đàn gia cầm. Vùng cây công nghiệp trên 2.000ha, trong đó cây mía cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy Đường có gần 1.000ha tập trung ở xã Ninh Xuân, Ninh Sim, Ninh Trang, Ninh Tây; cây thuốc lá, chủ yếu là loại giống lá vàng có chất lượng cao trên 300ha để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy thuốc lá của tỉnh, tập trung trồng ở Ninh Xuân, Ninh Sim... Cây trồng bông vải gần 500ha của Nông trường Bông Đá Bàn… Vật nuôi tập trung ở vùng này và ven núi là đàn bò, trên 23.000 con. Đối với vùng ven biển nổi lên phong trào làm đìa nuôi tôm của cán bộ nhà nước và nhân dân. Năm 1991 có gần 900ha đìa nuôi tôm xuất khẩu. Điểm mới ở vùng này là phương thức nuôi tôm đã chuyển dần từ nuôi tự nhiên sang nuôi bán chuyên, tạo tiền đề cho bước chuyển sang nuôi công nghiệp những năm sau này. Diện tích đìa tập trung chủ yếu ở khu vực thủy triều đầm Nha Phu kéo dài từ Ninh Phú - Ninh Giang - Ninh Hà - Ninh Lộc đến Ninh Ích. Từ năm 1990 - 1991, phong trào khai hoang làm đìa ở ven biển từ Ninh Thọ - Ninh Diêm - Ninh Hải diễn ra rất sôi nổi. Các năm sau, khu vực 3 xã này trở thành vùng nuôi tôm đi đầu về đổi mới công nghệ nuôi tôm đạt năng suất và hiệu quả trong huyện. Ngoài ra, trong huyện có 5 cơ sở sản xuất tôm giống tư nhân. Công ty Thủy sản huyện cũng đầu tư xây dựng được 1 trại tôm giống và 1 kho đông lạnh quy mô nhỏ, phục vụ vùng đìa tôm. Năm 1989, huyện liên doanh với tổ chức kinh tế nước ngoài Lobana Seaprodex xây dựng 4ha đìa nuôi tôm công nghiệp tại Ninh Lộc. Mục đích là làm hạt nhân để nhân rộng mô hình nuôi tôm công nghiệp trong huyện, mở ra khâu đột phá trong chương trình hàng xuất khẩu. Ngày 7/3/1990 Công ty nuôi tôm công nghiệp huyện Ninh Hòa, trực thuộc Hội đồng quản trị VATECH (Đà Nẵng) được thành lập. Đây là mô hình liên kết làm ăn với nước ngoài đầu tiên của huyện. Tuy nhiên, mô hình nuôi tôm công nghiệp Lobana không thành công. Song, từ đó huyện rút ra bài học kinh nghiệm quý giá để quyết tâm chỉ đạo thành công việc phát triển nuôi tôm công nghiệp lan rộng ra toàn huyện. Bên cạnh nuôi tôm, sản xuất muối đi vào ổn định dần trên diện tích gần 600 ha; một số ruộng muối còn được dân tận dụng để nuôi cá măng trong mùa mưa. Về đánh bắt hải sản, ngư dân phấn khởi đóng mới thêm nhiều tàu thuyền, riêng năm 1991 là 113 chiếc, nâng số lượng tàu thuyền lên 1.143 chiếc, trong đó trên 400 tàu thuyền máy với tổng công suất gần 3.000 mã lực. Đáng chú ý là ý thức bám biển vươn ra khơi xa của ngư dân được khơi dậy. Lần đầu tiên nghề đánh bắt hải sản Ninh Hòa xuất hiện tàu trên 40 mã lực, trong đó có một số tàu công suất 90 mã lực. Dưới tác động phân công lại lao động giữa các vùng kinh tế theo quy hoạch, ở vùng núi và ven núi có hàng trăm hộ dân từ các xã lên khai hoang sản xuất trên 2.000ha thuộc khu vực Đá Bàn, Suối Trầu, Ninh Trang, Ninh Tây… Năm 1989, huyện mở ra khu kinh tế mới Tân Phong (xã Ninh Xuân), đến năm 1991 có 210 hộ, trên 850 nhân khẩu định cư. Nhận thức trồng và bảo vệ rừng là nhiệm vụ quan trọng, huyện tiến hành quy hoạch vùng đất trống, đồi trọc trên 2.500ha để chuẩn bị trồng rừng bằng nguồn vốn tài trợ của chương trình lương thực thế giới (gọi tắt là rừng PAM) theo Quyết định số 327-CT, ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước. Đồng thời khoanh nuôi, bảo vệ và giao gần 400 ha rừng căm xe đang tái sinh ở xã Ninh Tây cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số quản lý.
Sự hình thành 4 vùng kinh tế đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp toàn diện có bước phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, tổng sản lượng lương thực tăng liên tục kể từ năm 1988, năm 1991 đạt trên 52.400 tấn, đánh dấu mốc quan trọng của nền kinh tế huyện: Từ đây, huyện bắt đầu giải quyết ổn định, vững chắc vấn đề lương thực trên địa bàn và chấm dứt nạn đói giáp hạt. Đây là thắng lợi nổi bật nhất trong chương trình lương thực, thực phẩm.
Bên cạnh chuyển biến quan trọng nêu trên, nông nghiệp, nông thôn cũng đang đứng trước nhiều khó khăn mới. Sau khi thực hiện “khoán 10”, phần lớn các hợp tác xã quản lý không theo kịp tình hình, lúng túng trong điều hành sử dụng vốn và các quỹ, tổ chức kinh doanh các khâu dịch vụ không đạt hiệu quả. Hầu hết nhà kho, sân phơi, máy cày đại… của các hợp tác xã đều không còn phát huy tác dụng. Năm 1990, trong tổng số 31 hợp tác xã chỉ có 1/3 hợp tác xã khá, làm ăn được. Một số ít như Ninh Quang I, thị trấn Ninh Hòa, Ninh Đa… chuyển sang kinh doanh tổng hợp, ban quản lý năng động, đi đúng hướng thì đạt hiệu quả cao. Hầu hết các hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng trong huyện không còn hoạt động, các khoản nợ ngân hàng hoặc nợ hợp tác xã nông nghiệp không có khả năng thanh toán. Ở nông thôn, một số hoạt động văn hóa - xã hội như nhà trẻ, mẫu giáo, đài truyền thanh, văn nghệ… không còn được hợp tác xã bao cấp nên bị đình trệ. Những gia đình neo đơn, thiếu vốn, gia đình chính sách… không có khả năng nhận khoán hoặc vượt khoán gặp nhiều khó khăn trong đời sống. Tình hình tranh chấp đất đai, lấn chiếm ruộng đất công làm nhà, vi phạm Luật Đất đai diễn ra ở nhiều xã. Nhiều nơi mọc lên các điểm dân cư hình thành tự phát với quy mô hàng chục hộ dân, gây nhiều phức tạp trong công tác quản lý xã hội.
Về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở cả khu vực quốc doanh và tập thể, sau khi đổi mới cơ chế quản lý theo tinh thần Quyết định 217/HĐBT đã tạo được một số chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, sự chuyển biến đó chỉ đạt được trong vài tháng đầu vào cuối năm 1988, đầu năm 1989. Sau đó lại rơi vào tình trạng sản xuất bị đình trệ trước biến động của thị trường và thay đổi chính sách kinh tế của Nhà nước. Hầu hết các xí nghiệp sản xuất và công ty kinh doanh của huyện đều không xử lý được đầu vào do vốn kinh doanh quá thấp, lãi suất ngân hàng cao, tiền mặt thiếu, giá điện, xăng dầu, vật tư kỹ thuật cao. Trong khi đó, các sản phẩm lại bị tồn kho không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ chậm[19]. Hầu hết các đơn vị đều bị đình trệ sản xuất, kinh doanh, hoạt động cầm chừng, phải giải quyết cho công nhân nghỉ việc không lương hoặc hưởng lương 70%, trả lương bằng sản phẩm. Có đơn vị ngừng sản xuất vì thua lỗ, đứng trước nguy cơ phá sản. Trước tình hình đó, với tư duy kinh tế mới, Ban Thường vụ Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Từ giữa năm 1989, một số đơn vị từng bước vươn lên như Xí nghiệp Gạch ngói Ninh Hòa. Xí nghiệp mạnh dạn tổ chức lại sản xuất, tinh giảm biên chế, hợp lý hóa dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm; cải tiến cung cách bán hàng, mở rộng thị trường đến nhiều tỉnh. Nhờ đó đã tiêu thụ hết sản phẩm tồn kho, trả hết nợ vay ngân hàng, trở thành một trong những đơn vị điển hình sản xuất có hiệu quả của tỉnh.
Đối với các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp càng gặp nhiều khó khăn, phương hướng sản xuất không rõ ràng, bế tắc trong sản xuất do không thích ứng với cơ chế thị trường. Đầu ra của sản xuất phụ thuộc vào công ty tỉnh, không tìm được thị trường tiêu thụ. Đến cuối năm 1991, phần lớn các hợp tác xã mộc mỹ nghệ, mây tre lá, sản xuất vôi, xay xát… đều giải thể hoặc chuyển sang hình thức tư nhân, chỉ còn lại một vài đơn vị trụ lại được như Hợp tác xã Vĩnh Phước. Tình hình như vậy nên huyện đã giải thể Liên hiệp xã huyện, đồng thời thành lập Công ty Dịch vụ ngoài quốc doanh. Vốn của Công ty do cổ đông đóng cổ phần theo Luật Công ty năm 1990. Tuy nhiên, Công ty cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì phải giải thể do thua lỗ.
Do tình hình sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn nên nhiều đơn vị quốc doanh không nộp được ngân sách, có đơn vị phải lấy vốn kinh doanh để nộp. Nợ khê đọng thuế nông nghiệp và các loại thuế khác trong khu vực kinh tế cá thể, tư nhân, hộ gia đình tăng lên. Vì vậy, ngân sách huyện thu không đủ chi lương. Huyện phải mượn lại 100% thuế thu được, chưa nộp về tỉnh để cố gắng giải quyết tiền lương cho cán bộ, công nhân viên chức và các đối tượng chính sách; phải vay ngân hàng trên 100 triệu đồng để giải quyết chính sách cho thôi việc. Dù cố gắng nhưng vẫn còn nhiều khoản nợ chưa trả được[20]; ở xã, nhiều nơi 4 - 5 tháng liền cán bộ chưa được nhận lương, trợ cấp.
Trước tình hình khó khăn đó, quán triệt Kết luận số 04-KL/TU, ngày 9/10/1990 của Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 9 về một số vấn đề kinh tế xã hội cấp bách trong tỉnh, Ban Thường vụ Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện tổ chức nhiều cuộc họp tìm biện pháp giải quyết khó khăn, củng cố sản xuất. Mặc dù ngân sách thiếu hụt, huyện vẫn cố gắng dành một phần kinh phí đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu là làm thủy lợi và giao thông nông thôn; một phần để củng cố kinh tế quốc doanh. Sau khi tiến hành kiểm kê, đánh giá rà soát lại hoạt động của các đơn vị sản xuất kinh doanh, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo tạm hoãn thu quốc doanh để đầu tư lại cho sản xuất, xuất quỹ dự trữ lương thực để bổ sung vốn lưu động cho các đơn vị (chỉ riêng quý I/1989, đã xuất 400 tấn lúa)… Đồng thời có biện pháp xử lý cụ thể đối với từng xí nghiệp, công ty. Đối với các đơn vị sản xuất quan trọng, làm ăn có hiệu quả mà thiếu vốn, huyện ưu tiên hỗ trợ vay vốn như Xí nghiệp Gạch ngói, Nhà máy Đường, Xí nghiệp Muối Diêm Hải...; chỉ đạo các công ty chủ động mở rộng liên doanh, liên kết tạo nguồn vốn kinh doanh. Các đơn vị tích cực hợp lý hóa và điều chỉnh cơ cấu sản xuất, sắp xếp lại lao động, giải quyết chính sách nghỉ việc cho gần 1.250 lao động dôi dư theo Quyết định số 176-HĐBT, ngày 9/10/1989 về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh. Bộ máy hành chính của các đơn vị kinh tế tinh gọn đáng kể, giảm từ 60 - 70% cán bộ gián tiếp. Nhờ có những biện pháp kịp thời, nhiều ách tắc trong sản xuất kinh doanh được tháo gỡ dần, nhiều đơn vị vươn lên làm ăn khá hơn. Năm 1991, trong 19 đơn vị do huyện quản lý có 12 đơn vị làm ăn tương đối có hiệu quả, như Xí nghiệp Gạch ngói huyện, Công ty Thủy sản, Công ty Dịch vụ sản xuất tổng hợp (vẫn quen gọi là Công ty Vật tư), Xí nghiệp Thủy nông, Xí nghiệp Xây dựng, Lâm trường Ninh Hòa... Các đơn vị còn lại sản xuất kinh doanh không có hiệu quả. Một số đơn vị nợ nần không có khả năng thanh toán phải khoanh nợ, tạm ngưng hoạt động như Công ty Thương nghiệp, Công ty Chăn nuôi, Công ty Lương thực, Nhà máy Đường... Ngoài các đơn vị do huyện quản lý, kinh tế quốc doanh trên địa bàn huyện còn có 11 đơn vị thuộc tỉnh và Trung ương quản lý như Nhà máy Xi măng Hòn Khói, Nông trường Bông Đá Bàn, Nông trường Bò giống miền Trung, Nông trường Thuốc lá Dục Mỹ, Xí nghiệp Gạch ngói Ninh Xuân, Xí nghiệp chế biến Gỗ Ninh Xuân, Nhà máy Xay Ninh Đa, Nhà máy chế biến Muối và Hóa chất, Công ty Muối… Trong đó, một số đơn vị sản xuất có hiệu quả, một số khác cũng gặp nhiều khó khăn như các đơn vị của huyện.
Trong khi thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa gặp khó khăn thì các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể phát triển mạnh. Quán triệt Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 15/7/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, Ban Thường vụ Huyện ủy chủ trương động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân bỏ vốn ra khai thác tiềm năng lao động, đất đai, rừng biển... Đồng thời chỉ đạo hướng dẫn việc đăng ký sản xuất kinh doanh theo đúng các quy định của Nhà nước đã ban hành. Chủ trương của Đảng và Nhà nước hợp lòng dân, ở đâu cũng sôi nổi bàn chuyện “bung ra làm ăn”. Không khí buôn bán ở phố xá và khu trung tâm các xã nhộn nhịp hẳn lên. Trong huyện, ngày càng rất đông hộ gia đình cá thể, tiểu chủ, nhiều người hợp tác với nhau tổ chức thành nhóm tập thể bỏ vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh. Phổ biến là khai khẩn đất hoang làm đìa nuôi tôm, trồng mía, làm vườn rừng, sản xuất gạch ngói, đường thủ công, nước mắm, làm nghề cơ khí... Riêng kinh doanh thương nghiệp, dịch vụ có đăng ký kinh doanh năm 1991 trên 2.700 hộ. Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động linh hoạt, sớm thích ứng với cơ chế thị trường, phần lớn có hiệu quả và thực hiện tốt chính sách pháp luật. Bên cạnh đó, còn một bộ phận cá thể, tư nhân kinh doanh không tuân thủ pháp luật, trốn lậu thuế, nợ nần dây dưa đối với Nhà nước.
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trên địa bàn huyện bước đầu được hình thành, tuy còn mỏng, quy mô nhỏ nhưng cơ bản phù hợp với tiềm năng đa dạng, phát huy tốt khả năng khai thác tài nguyên trên địa bàn huyện, tạo ra nhiều loại sản phẩm cho xã hội. Ngoài sản phẩm lương thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ hàng tiêu dùng mỗi năm đều tăng lên, đến năm 1991 nhiều sản phẩm tăng nhanh như 23 triệu viên gạch, 8 triệu viên ngói, gần 33.000 tấn muối, 2 triệu lít nước mắm… Đối với hàng xuất khẩu, trong khi các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu gần như bế tắc thì huyện lại bước đầu tạo ra được dòng sản phẩm mới là tôm nuôi xuất khẩu, đạt trên 500 tấn, mở ra triển vọng sẽ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của huyện trong những năm sau này. Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển, đóng vai trò quan trọng và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong nền kinh tế huyện, như: Sản phẩm gạch ngói gấp 1,5 lần, chế biến gỗ gấp 2,5 lần kinh tế quốc doanh...; giá trị sản lượng chiếm trên 64% giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương[21]; nộp ngân sách chiếm 39,7% tổng thu ngân sách trên địa bàn, trong khi đó các đơn vị kinh tế quốc doanh nộp ngân sách chỉ chiếm 6,2%.
Trong những năm 1989 - 1991, mặc dù kinh tế huyện gặp khó khăn, ngân sách thiếu hụt nhưng với cố gắng cao nhất, toàn huyện duy trì được các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa - xã hội. Tuy nhiên, các lĩnh vực này tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn, nhiều mặt tiếp tục bị giảm sút. Về giáo dục, kinh phí tập trung tu sửa, ngói hóa trường lớp phục vụ chủ trương tách các trường phổ thông cơ sở (cấp 1 - 2) thành trường tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5) và trường trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9). Việc tách trường dẫn đến tình trạng thiếu giáo viên, nhất là cấp tiểu học. Huyện phải động viên, điều chuyển một bộ phận giáo viên cấp II xuống dạy tiểu học. Do đời sống gặp khó khăn, đồng lương thấp nên giáo viên bỏ việc, thôi việc và học sinh bỏ học vẫn tiếp tục tăng lên. Có năm học như 1989 - 1990, mới bước vào đầu năm học đã giảm 126 giáo viên. Học sinh mỗi năm có từ 1.700 - 2.000 em bỏ học, tỷ lệ bỏ học ở tiểu học là 5%, cấp trung học cơ sở là 23%. Đối với các xã khó khăn, Ban Thường vụ chủ trương miễn học phí cho học sinh như ở các xã Ninh Vân, Ninh Tây, Ninh Phước, Ninh Tân… Tuy nhiên, tình hình bỏ học ở các xã này vẫn không giảm. Việc học bổ túc văn hóa trong huyện gần như tan rã. Đây là những vấn đề bức xúc nhất của giáo dục trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt là từ 1989 - 1991. Đối với y tế, trong khó khăn, huyện cố gắng duy trì các mặt hoạt động khám và điều trị, vệ sinh phòng dịch, tiêm chủng mở rộng 6 bệnh truyền nhiễm cho trẻ em, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình… Riêng trạm y tế xã, do thiếu kinh phí nên hầu hết không còn hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng. Thực hiện Thông tư số 30/BYT-TT, ngày 23/12/1987 của Bộ Y tế quy định tạm thời về tổ chức khám bệnh ngoài giờ và hướng dẫn của Sở Y tế, phần lớn y, bác sĩ đều mở cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân. Việc cho phép cán bộ y tế đang công tác tại các cơ quan y tế nhà nước được mở các phòng khám, chữa bệnh tư nhân, một mặt đáp ứng được nhu cầu tự do lựa chọn dịch vụ y tế của dân, giảm tải cho bệnh viện huyện, cải thiện đời sống của cán bộ y tế… nhưng mặt khác cũng xuất hiện một số tiêu cực. Một số phòng khám, chữa bệnh không theo đúng quy định của Bộ Y tế và thiếu sự quản lý, kiểm tra của cơ quan chức năng. Việc khám chữa bệnh ngoài giờ dẫn đến “chân ngoài dài hơn chân trong”, chất lượng khám và điều trị, tinh thần và thái độ phục vụ của một số cán bộ y tế trong bệnh viện có biểu hiện giảm sút, gây bất bình trong nhân dân.
Trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, sau khi thực hiện “khoán 10”, hệ thống đài truyền thanh xã xuống cấp nghiêm trọng, một số đài không còn hoạt động; các đội thông tin tuyên truyền, đội văn nghệ xã hầu hết đều giải thể. Điểm nổi lên khác với trước đây là các hoạt động văn hóa mang bản sắc dân tộc, văn nghệ quần chúng lắng xuống, số buổi biểu diễn của các đoàn nghệ thuật giảm, thay vào đó là các hoạt động phim ảnh, chủ yếu là chiếu video của tư nhân với nội dung võ thuật là chủ yếu. Tại rạp chiếu bóng và Nhà Văn hóa huyện, sau khi chấn chỉnh việc chiếu video, nguồn phim ảnh quá nghèo nàn nên rất ít người xem. Đời sống văn hóa, thông tin, văn nghệ ở nông thôn trở nên nghèo nàn, nhất là các xã xa thị trấn như Ninh Vân, Ninh Phước, Ninh Tây, Ninh Tân... Trước tình hình đó, Huyện ủy chỉ đạo tiếp tục hướng mạnh về cơ sở, dành một phần kinh phí từ ngân sách để duy trì bình thường các hoạt động văn hóa, thông tin. Các đội văn nghệ quần chúng và chiếu bóng lưu động của huyện tích cực luân phiên xuống 26 xã, thị trấn phục vụ. Trong năm 1990 là năm có nhiều ngày lễ kỷ niệm lớn của dân tộc, quê hương, Ban Thường vụ chỉ đạo mở các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, dấy lên phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng từ cơ sở; tất cả các xã đều tổ chức mít tinh trọng thể… tạo bầu không khí vui tươi, lành mạnh trong nhân dân. Có cuộc mít tinh thu hút hàng ngàn người về dự, như lễ 2/9 ở thị trấn Ninh Hòa có trên 4.000 người, Ninh Hưng trên 1.000 người. Năm 1991, huyện đầu tư củng cố nâng cấp Đài Truyền thanh huyện, lắp đặt máy tiếp phát truyền hình, đánh dấu bước phát triển mới trong công tác thông tin tuyên truyền của Đảng bộ và chính quyền huyện. Lúc đó, Đài huyện có phát chương trình chiếu phim, tuy nội dung là phù hợp, đáp ứng được phần nào nhu cầu hưởng thụ của nhân dân nhưng sai chức năng, nhiệm vụ nên đã được chấn chỉnh kịp thời.
Về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, thực hiện sự chỉ đạo và hướng dẫn của tỉnh, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo xây dựng kế hoạch phòng thủ huyện trong khu vực phòng thủ của tỉnh; xây dựng phương án chống bạo loạn, lật đổ; tiến hành diễn tập phòng thủ năm 1990 (PT90) theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu” theo tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VI) về xây dựng tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc, thể hiện tinh thần cảnh giác cách mạng và sẵn sàng chiến đấu cao (còn gọi tắt là cơ chế 02). Tất cả các xã, thị trấn tiến hành xây dựng các phương án phòng thủ, phương án chiến đấu tại chỗ và chống bạo loạn, chính trị; tập trung củng cố lực lượng dân quân, tự vệ. Ngoài ra, huyện còn thành lập được 1 tiểu đoàn quân dự bị động viên được huấn luyện và quản lý khá chặt chẽ. Quán triệt Chỉ thị số 135/CT, ngày 14/5/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường công tác bảo vệ trật tự, an toàn xã hội và Nghị quyết số 19-NQ/TU, ngày 23/8/1990 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị trong tình hình mới, Huyện ủy chỉ đạo các lực lượng công an, quân sự phối hợp liên tục tổ chức các đợt truy quét, tấn công tội phạm. Đồng thời tăng cường các biện pháp tuyên truyền giáo dục và phát động quần chúng, xây dựng phong trào toàn dân giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, toàn dân tham gia phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Đến năm 1991, tình hình trật tự, an toàn xã hội chuyển biến tích cực, số vụ phạm pháp hình sự, xâm phạm tải sản xã hội chủ nghĩa giảm hẳn; các vụ vượt biển giảm hẳn. Tuy đạt được một số tiến bộ nhưng công tác quốc phòng - an ninh vẫn còn đứng trước vấn đề phức tạp: Công tác tuyển quân tiếp tục gặp khó khăn, việc khắc phục tình hình chống khám sức khỏe tuổi 17, chống lệnh, đào ngũ chưa đạt hiệu quả[22]. Tình hình trật tự, an toàn xã hội vẫn diễn biến phức tạp, trong đó nổi lên là vi phạm Luật Đất đai, các luật về thuế, Luật Bảo vệ rừng…
Củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
Cùng với việc lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, trong nhiệm kỳ 12 Đảng bộ chú trọng đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể. Cuối năm 1989, trong Thường trực Huyện ủy có sự thay đổi nhân sự. Tháng 8/1989, đồng chí Trần Việt Á, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy nghỉ chính sách; đồng chí Nguyễn Bá Cường, Phó Bí thư làm Quyền Bí thư Huyện ủy. Ngày 23/10/1989, đồng chí Nguyễn Bá Cường được Ban Bí thư chỉ định bổ sung Ủy viên chính thức Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh; ngày 23/11/1989, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện họp phiên bất thường bầu đồng chí làm Bí thư Huyện ủy. Tháng 9/1989 đồng chí Mai Trực, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy được phân công làm nhiệm vụ Trực Đảng kiêm Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy (từ ngày 1/3/1990 đồng chí thôi kiêm Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy). Đến ngày 1/6/1990, đồng chí Phạm Đài, Ủy viên Ban Thường vụ chuyển sang làm Trực Đảng kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện, thay đồng chí Mai Trực chuyển công tác về Ban Tổ chức Tỉnh ủy.
Trước tác động phức tạp của tình hình khó khăn trong nước, trong tỉnh và diễn biến chính trị quốc tế phức tạp, Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Huyện ủy đề ra nhiều chủ trương, biện pháp tăng cường công tác xây dựng Đảng, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội. Nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định được Đảng bộ xác định là về công tác tư tưởng. Quán triệt những quan điểm và nguyên tắc cơ bản trong Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 24/8/1989 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI) về một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng, Đảng bộ tập trung giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao sự kiên định lập trường, giữ vững lòng tin vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa của Đảng; bồi dưỡng những quan điểm đổi mới, lý luận chính trị, kiến thức quản lý kinh tế, pháp luật, công tác quần chúng; giáo dục truyền thống cách mạng. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ đề ra Kế hoạch số 24-KH/HU bổ sung một số nhiệm vụ mới trong Cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Điểm mới là cuộc vận động được gắn với việc thực hiện Chỉ thị 62-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và gắn với Quyết định 240/HĐBT, ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đấu tranh chống tham nhũng. Việc gắn với Chỉ thị 62-CT/TW và Quyết định 240/HĐBT đã làm cho cuộc vận động thêm mạnh mẽ và có ý nghĩa hơn, thể hiện quyết tâm làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của Đảng bộ. Nhận thức rõ, phải thực hiện tốt cuộc vận động thì mới đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đã đề ra, toàn Đảng bộ nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá vai trò lãnh đạo của mình về mọi mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, về phong cách lãnh đạo, về phẩm chất của đội ngũ cán bộ đảng viên. Với tinh thần tự giác cao, mỗi cán bộ, đảng viên nghiêm túc kiểm điểm, tự liên hệ bản thân mình. Đồng thời phát động quần chúng, các đoàn thể góp ý xây dựng Đảng[23], có cơ sở mở rộng đến thôn, đội sản xuất, sử dụng nhiều hình thức góp ý tại hội nghị, gặp trực tiếp hoặc bằng thư gửi cho cấp ủy. Ý kiến quần chúng góp ý nói chung là tốt, thẳng thắn, có tính xây dựng nhất là ở xã, thị trấn. Thông qua các đợt sinh hoạt chính trị, phần đông cán bộ, đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng nghiêm túc sửa chữa khuyết điểm, nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, đoàn kết nhất trí thực hiện công cuộc đổi mới; trình độ nhận thức và năng lực công tác được nâng cao một bước. Không khí dân chủ, thẳng thắn tự phê bình và phê bình trong Đảng được khơi dậy.
Cuộc vận động xây dựng Đảng đã góp phần củng cố kiện toàn bộ máy tổ chức và cán bộ. Ban Thường vụ Huyện ủy quyết định giải thể một số chi bộ không đủ điều kiện tồn tại; bố trí lại đội ngũ cán bộ chủ chốt một số ngành, đơn vị; đề bạt và bổ nhiệm 25 đồng chí trưởng, phó phòng, giám đốc, phó giám đốc và tương đương. Sau củng cố, chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên, hầu hết đều đã qua trường đào tạo lý luận trung, cao cấp, được bồi dưỡng nâng cao về trình độ chuyên môn. Phần đông cán bộ có phẩm chất chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt. Nhiều đồng chí thể hiện năng động, tích cực đổi mới mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ của huyện còn yếu về một số mặt, nhất là về năng lực cụ thể hoá nghị quyết của Đảng theo tinh thần đổi mới cũng như trình độ hiểu biết về lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội phát triển theo cơ chế mới. Do vậy, Đảng bộ đặc biệt quan tâm công tác bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại cán bộ, trong đó nhấn mạnh bồi dưỡng kiến thức mới. Huyện gửi hàng trăm cán bộ đi học các lớp do tỉnh mở về lý luận, kinh tế thị trường, quản lý nhà nước, đoàn thể, quản lý kinh tế và nghiệp vụ chuyên môn. Riêng Trường Đảng huyện liên tục mở 17 lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ cho gần 1.000 cán bộ cơ sở. Đi đôi với công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ, qua cuộc vận động, Đảng bộ tiến hành làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, đảng viên. Năm 1989 - 1991 đã xử lý kỷ luật 90 đảng viên vi phạm[24], xử lý nghiêm minh một số vụ việc tiêu cực như ở Công ty Lương thực, Công ty Ngoại thương, Lâm trường, Phòng Tài chính, Ngân hàng Ninh Hòa…, góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân.
Quá trình thực hiện cuộc vận động còn gắn chặt với cuộc bầu cử hội đồng nhân dân 3 cấp. Ban Thường vụ chỉ đạo chặt chẽ quá trình hiệp thương và tổ chức lấy ý kiến đóng góp của cử tri đối với các ứng cử viên đại biểu, lựa chọn những người có đức, có tài để bầu vào hội đồng nhân dân. Cuộc bầu cử diễn ra vào ngày 19/11/1989, bảo đảm đúng luật, an toàn và tiết kiệm. Hội đồng nhân dân huyện khóa VI được bầu ra gồm 47 vị đại biểu. Theo Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1989 có điểm mới là: Lần đầu tiên luật quy định hội đồng nhân dân huyện được lập ra cơ quan thường trực của hội đồng và các ban tham mưu, giúp việc của hội đồng nhân dân. Tại kỳ họp đầu tiên ngày 15 - 16/12/1989, Hội đồng đã bầu đồng chí Phạm Đài, Ủy viên Ban Thường vụ, Trực Đảng làm Chủ tịch; bầu đồng chí Nguyễn Văn Chiêu, Huyện ủy viên làm Phó Chủ tịch; bầu Thư ký Hội đồng nhân dân; bầu trưởng ban và các thành viên của 2 ban là Ban Kinh tế - xã hội và Ban Pháp chế; bầu Thường trực Ủy ban nhân dân gồm các đồng chí: Bùi Thanh Lâm, Phó Bí thư Huyện ủy làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Hồ Bá Chiến, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Nguyễn Hữu Thấu, Huyện ủy viên và Nguyễn Xuân Long, Huyện ủy viên làm Phó Chủ tịch; bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện 8 đồng chí. Tháng 12/1991, đồng chí Hồ Bá Chiến nghỉ chính sách nên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân chỉ có 2 đồng chí. Ủy ban nhân dân huyện tiến hành sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn tinh gọn hơn theo Quyết định số 58-QĐ/TU của Tỉnh ủy, bước đầu phát huy được chức năng, nhiệm vụ theo mô hình mới. Ủy ban nhân dân cấp xã sau bầu cử, chất lượng cũng nâng lên đáng kể. Ủy ban nhân dân xã xây dựng quy chế làm việc, phân công, phân nhiệm rõ ràng đối với từng bộ phận, từng cá nhân. Nhìn chung, bộ máy chính quyền từ huyện đến cơ sở sau kiện toàn đi vào hoạt động thể hiện nhiều tiến bộ, có bước chuyển biến rõ nét trong việc điều hành và quản lý nhà nước bằng pháp luật, nhất là đối với việc quản lý các thành phần kinh tế.
Thực hiện Nghị quyết số 8B-NQ/HNTW, ngày 27/3/1990 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa VI), Huyện ủy đề ra chương trình hành động về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Nhiệm vụ trọng tâm được xác định là chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của dân; khắc phục tư tưởng coi nhẹ vai trò quần chúng và công tác quần chúng. Ban Thường vụ Huyện ủy tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành đề ra kế hoạch cụ thể thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội; chỉ đạo củng cố bộ máy tổ chức của mặt trận và các đoàn thể, nhất là qua các kỳ đại hội đoàn thể; từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo công tác quần chúng theo hướng coi trọng việc mở rộng dân chủ. Các cấp ủy đảng chú trọng tổ chức cho quần chúng góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền; thực hiện tốt chế độ làm việc, giao ban, lắng nghe ý kiến của mặt trận, đoàn thể. Nhiều cơ sở đảng định kỳ tổ chức lấy ý kiến quần chúng đóng góp cho cấp ủy, chính quyền và cán bộ, đảng viên; tiếp thu và có biện pháp chỉ đạo giải quyết các kiến nghị chính đáng của nhân dân. Công tác tiếp xúc cử tri, lắng nghe ý kiến của nhân dân được đại biểu Hội đồng nhân dân huyện và xã tôn trọng, được tổng hợp đưa ra tại các kỳ họp của hội đồng trao đổi, thảo luận để có chủ trương giải quyết. Trong công tác điều hành, Ủy ban nhân dân huyện và xã bước đầu coi trọng biện pháp giáo dục thuyết phục, phối hợp với mặt trận, các đoàn thể thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, từng bước khắc phục phong cách quan liêu, mệnh lệnh. Công tác điều tra, thanh tra, xét xử, tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu tố của nhân dân và ý thức phục vụ nhân dân của công chức các ngành có tiến bộ hơn trước. Mối quan hệ làm việc giữa Đảng, chính quyền với mặt trận, đoàn thể chặt chẽ hơn.
Từ khi có Nghị quyết 8B-NQ/HNTW, mặt trận và các đoàn thể có nhiều cố gắng tìm tòi đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia vào công cuộc đổi mới trên địa bàn huyện. Mặt trận mở rộng tổ chức theo hướng đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo cùng phấn đấu cho mục tiêu của công cuộc đổi mới. Ngày 20/4/1989, Hội gia đình Việt kiều yêu nước huyện thành lập và gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện. Ngày 20/3/1990, Ban Thường vụ Huyện ủy ra Quyết định số 44-QĐ/HU thành lập Ban Chấp hành lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam huyện Ninh Hòa; chỉ đạo quá trình vận động và mở đại hội chính thức thành lập Hội. Các đoàn thể kiện toàn sắp xếp lại tổ chức, coi trọng công tác giáo dục đoàn viên, hội viên, xóa hội viên danh nghĩa, tăng cường kết nạp thêm hội viên thực chất. Năm 1991, huyện có 6 đoàn thể chính trị - xã hội với tổng số trên 51.800 đoàn, hội viên[25]. Từ chỗ hoạt động chính trị chung chung, mặt trận và các đoàn thể từng bước đổi mới chăm lo đến những lợi ích cụ thể thiết thực của đoàn viên, hội viên; tập trung khai thác sức dân thông qua việc động viên lòng yêu nước, tăng cường hoạt động xã hội, gắn quyền lợi với nghĩa vụ của hội viên, đoàn viên. Nhiều chương trình, phong trào do mặt trận, đoàn thể thực hiện mang lại kết quả thiết thực. Nổi bật các phong trào nông dân sản xuất giỏi, phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình, tuổi trẻ lập nghiệp và thanh niên giữ nước, cựu chiến binh gương mẫu, chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kế hoạch hóa gia đình, giải quyết việc làm. Từ năm 1985 trong huyện bắt đầu khởi động phong trào vận động xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm cho các đối tượng chính sách nhưng đến những năm 1990 - 1991, phong trào mới phát triển mạnh, góp phần giúp cho thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước bớt khó khăn trong cuộc sống. Những năm này, các hoạt động liên tịch giữa xã, thị trấn, các đơn vị cơ sở, quân đội, công an với mặt trận và các đoàn thể cũng mạnh mẽ hơn, thường xuyên hơn. Nhờ đó nhiều phong trào như làm thủy lợi, giao thông nông thôn, xóa mù chữ, thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ, ủng hộ Trường Sa, giữ gìn trật tự an ninh thôn xóm… mang lại hiệu quả, được nhân dân ủng hộ và đồng tình. Qua các hoạt động trên, mặt trận và các tổ chức đoàn thể thể hiện có nhiều tiến bộ, tình trạng xơ cứng trong sinh hoạt giảm dần, lợi ích của đoàn hội viên được quan tâm hơn.
Những chuyển biến nêu trên là kết quả bước đầu đổi mới công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể của Đảng bộ. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp được nâng cao một bước quan trọng; không khí dân chủ xã hội “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được khơi dậy. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, chưa ngang tầm so với yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ còn nhiều vướng mắc, chưa thể hiện rõ. “Hiệu lực lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước từng nơi, từng lúc bị giảm sút và buông lỏng, sự hoạt động của các đoàn thể còn lúng túng về nội dung và sinh hoạt chậm được khắc phục. Chỉ thị, nghị quyết thì nhiều nhưng việc triển khai tổ chức thực hiện kém hiệu quả”[26]. Công tác tư tưởng của Đảng bộ chưa theo kịp diễn biến tình hình thế giới, trong nước, trong tỉnh. Công tác tổ chức và cán bộ còn nhiều khuyết điểm như bố trí cán bộ một số trường hợp chưa phù hợp; một số cơ sở còn yếu chưa được củng cố có hiệu quả...
Sau hơn 5 năm đầu (1986 - 1991) thực hiện sự nghiệp đổi mới, kinh tế - xã hội, huyện có sự thay đổi lớn theo xu hướng phát triển chung của cả tỉnh, cả nước. Đó là bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường; là sự hình thành nền kinh tế nhiều thành phần và bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế thế giới. Kết quả đó thể hiện những đổi mới về tư duy kinh tế mà Đảng bộ huyện đã nắm bắt kịp tiến trình đổi mới chung của cả nước, cả tỉnh, góp phần tạo ra một số chuyển biến quan trọng về kinh tế. Đáng chú ý là với sự hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiều mục tiêu quan trọng của 3 chương trình kinh tế lớn, đặc biệt là chương trình lương thực, thực phẩm. An ninh chính trị, xã hội được giữ vững ổn định. Mặc dù đó mới chỉ là những kết quả đổi mới bước đầu và còn nhiều hạn chế, mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội còn gặp nhiều khó khăn, quá trình đổi mới còn vấp váp, lúng túng, song đã mở ra định hướng mới sáng sủa cho sự phát triển tiếp theo của huyện.
[1] Giá cả tại chợ Ninh Hòa ngày 10/12/1985 so với 1/1/1986: Gạo tăng 5,6 lần, thịt heo tăng 11,5 lần, xà phòng bột tăng 7,4 lần, dầu hỏa tăng 8 lần.. .
[2] Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, HN 2004, tập 42, tr.74.
[3] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện trình Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 11, tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Thị ủy Ninh Hòa.
[4] Lạm phát năm 1986 là 774,7%; 1987 là 323,1%; 1988 là 393,8% (theo Văn kiện Đảng toàn tập; tập 55; Nxb. Chính trị quốc gia, HN. 2015; tr.346-347).
[5] Các đội chuyên trách làm thủy lợi trong các hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là đội 202) được hưởng một số chế độ đãi ngộ theo Quyết định số 202-CP, ngày 31/10/1970 của Hội đồng Chính phủ.
[6] Chỉ riêng quý I/1988, toàn huyện đã mua thêm 31 máy cày đại.
[7] 6 tháng đầu năm 1988, tỉnh cung ứng phân đạm đạt 11,6%; phân lân 1,1%; kaly 29%; thuốc sâu 4,6% so với kế hoạch.
[8] Toàn huyện nợ khê đọng trong dân trên 2.000 tấn lúa.
[9] Báo cáo số 20-BC/HU, ngày 15/6/1988 về Sơ kết 6 tháng đầu năm 1988 của Huyện ủy Ninh Hòa; tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Thị ủy Ninh Hòa.
[10] Đầu năm 1989, số máy có đăng ký toàn huyện là 28 máy, đến cuối năm 1990 tăng lên 200 máy.
[11] Năm 1988, trong dân quân tự vệ, tỷ lệ đảng viên chiếm 29,6%, đoàn viên thanh niên chiếm 29,7%.
[12] Tác giả N.V.L là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, bài viết đầu tiên của chuyên mục “Những việc cần làm ngay” trên báo Nhân dân vào ngày 25/5/1987.
[13] 2 năm 1987 - 1988 huyện không đạt chỉ tiêu tuyển quân tỉnh giao.
[14] Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1988, huyện tiếp nhận 156 đơn thư, trong đó 20 đơn khiếu nại đòi lại ruộng đất, 10 đơn tố cáo cán bộ tham ô.
[15] Nghị quyết số 700-NQ/HĐNN7, ngày 15/1/1986 của Hội đồng Nhà nước quyết định hoãn cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp huyện, xã và tương đương, trước định tổ chức vào tháng 4/1986, sẽ được tổ chức vào tháng 4/1987, cùng ngày với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII.
[16] 10 phòng, ban trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện, là: 1- Văn phòng UBND huyện, gồm có các bộ phận: Văn phòng, thi đua, trọng tài kinh tế, thư ký Hội đồng nhân dân, tư pháp, theo dõi chính sách lương thực; 2- Phòng Kế hoạch, gồm có các bộ phận: Kế hoạch, quy hoạch, thống kê, khoa học kỹ thuật huyện; 3- Phòng Nông nghiệp, gồm có các bộ phận: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi; 4- Phòng Tổ chức, gồm có các bộ phận: Tổ chức, lao động, thương binh xã hội; 5- Phòng Văn hóa thông tin, gồm có các bộ phận: Văn hoá thông tin, đài truyền thanh huyện, thể dục thể thao; 6- Phòng Công nghiệp, gồm có các bộ phận: Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng giao thông, nhà đất; 7- Phòng Tài chính, gồm có các bộ phận: Tài chính, thương nghiệp, thuế vụ, cải tạo công - thương nghiệp, quản lý thị trường; 8- Phòng Y tế; 9- Phòng Giáo dục; và 10- Ban Thanh tra huyện.Đến tháng 3/1990, Phòng Y tế sáp nhập với Bệnh viện và Đội Vệ sinh phòng dịch để thành lập Trung tâm Y tế huyện nên còn lại 9 phòng ban.
[17] Báo cáo Tình hình và nhiệm vụ của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (trình bày tại Đại hội Đảng bộ huyện Ninh Hòa lần thứ 5 (tức lần thứ 12); tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Thị ủy Ninh Hòa.
[18] Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1989, toàn huyện tu sửa trên 50km đường giao thông nông thôn; làm mới gần 120 cầu, cống.
[19] Trong 6 tháng đầu năm 1989, các đơn vị kinh tế quốc doanh bị tồn kho: Gần 40.000 tấn muối, 1 triệu viên gạch ngói, 50 tấn đường, 500m3 gỗ, 30 tấn cà phê, 15 tấn đào, 15 tấn thầu dầu, 8 tấn trầm kỳ...
[20] Chỉ riêng nợ giải quyết chính sách cho 120 giáo viên nghỉ việc trong 6 tháng đầu năm 1989 là 50 triệu đồng.
[21] Năm 1991, theo giá cố định 1989: Giá trị tổng sản lượng công nghiệp địa phương đạt 12,8 triệu đồng, trong đó quốc doanh 4,6 triệu đồng, ngoài quốc doanh 8,2 triệu đồng.
[22] Năm 1991, số quân nhân đào ngũ tồn động qua các năm buộc phải gom quân là 856 người.
[23] Từ ngày 15/9 đến ngày 10/12/1990, các tổ chức đảng đã tổ chức các hội nghị quần chúng góp ý xây dựng Đảng, có 1.410 quần chúng tham gia.
[24] 90 đảng viên bị xử lý, trong đó xử lý kỷ luật bằng các hình thức là 38, khai trừ 20, đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức 32 đảng viên.
[25] 52.100 đoàn hội viên, gồm: Đoàn Thanh niên 2.474 đoàn viên, Hội Liên hiệp Thanh niên 1.250 thanh niên, Liên đoàn Lao động 3.400 đoàn viên, Hội Liên hiệp Phụ nữ 18.364 hội viên, Hội Nông dân tập thể 25.839 hội viên, Hội Cựu chiến binh 568 hội viên.
[26] Trích Báo cáo tình hình và phương hướng nhiệm vụ tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Ninh Hòa lần thứ 12; tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Thị ủy Ninh Hòa.