Đại hội Đảng bộ huyện Ninh Hòa lần thứ 9[1], nhiệm kỳ 1979 - 1982
Thực hiện Quyết định 85/QĐ-CP của Hội đồng Chính phủ, ngày 31/3/1979, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra quyết định thành lập Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời huyện Ninh Hòa gồm 13 đồng chí. Ngày 12/4/1979, Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời huyện họp phiên đầu tiên, bầu Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 5 đồng chí; bầu đồng chí Triết Giang, Tỉnh ủy viên làm Bí thư; bầu đồng chí Võ Danh làm Phó Bí thư Huyện ủy. Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập Ủy ban nhân dân huyện, đồng chí Nguyễn Thặng, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy làm Chủ tịch, đồng chí Lê Văn Chi, Huyện ủy viên làm Phó Chủ tịch.
Huyện Ninh Hòa lúc tái lập có 24 đơn vị hành chính cấp xã[2], dân số gần 144.000 người. Đến cuối tháng 9/1981, tăng thêm 2 xã là Ninh Thủy được tách ra từ Ninh Diêm và xã Ninh Vân được tách ra từ xã Ninh Phước. Vào thời điểm tái lập huyện, đất nước ta phải đối mặt với khó khăn chồng chất khó khăn và nhiều thách thức nghiêm trọng. Trong điều kiện bị bao vây cấm vận quốc tế, đời sống nhân dân thiếu thốn mọi bề, bữa rau bữa cháo, cả nước vừa phải chống chọi với thiên tai liên tiếp xảy ra, hết lũ lụt ở miền Bắc lại đến lũ lụt ở miền Nam, vừa phải đương đầu với 2 cuộc chiến tranh biên giới ác liệt. Lợi dụng khó khăn đó, trên địa bàn Ninh Hòa, các phần tử phản động tiếp tục cấu kết với số người trong chế độ cũ chưa chịu cải tạo, nhen nhóm lực lượng, tích trữ vũ khí, tổ chức chống phá ta nhiều mặt và chờ thời cơ gây bạo loạn, lật đổ. Chúng tập trung phá hoại hợp tác xã, kích động tâm lý lo sợ chiến tranh, kích động người trốn ra nước ngoài, người Việt gốc Hoa di tản... làm cho tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội thêm phức tạp, căng thẳng, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân.
Trong bối cảnh đó, thi hành Nghị quyết số 105-NQ/TU, ngày 25/9/1978 của Tỉnh ủy về tổ chức đại hội đảng các cấp, từ ngày 27 - 29/6/1979, tại Trường phổ thông cơ sở thị trấn Ninh Hòa 1 (nay là Trường Tiểu học số 3 Ninh Hiệp), Đảng bộ Ninh Hòa tiến hành Đại hội lần thứ 9, nhiệm kỳ 1979 - 1982. Về dự Đại hội, có 120 đại biểu chính thức và 10 đại biểu dự khuyết đại diện cho 62 chi bộ và 730 đảng viên của toàn Đảng bộ. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa IX gồm 31 Ủy viên chính thức và 2 Ủy viên dự khuyết; bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 2 gồm 23 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Ngày 30/6/1979, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Ban Thường vụ gồm 9 đồng chí; bầu đồng chí Triết Giang, Tỉnh ủy viên làm Bí thư; bầu 2 đồng chí là Võ Danh và Nguyễn Đình Tòng (tức Tư Ốm) làm Phó Bí thư Huyện ủy; bầu Ủy ban Kiểm tra 3 đồng chí. Đến tháng 10/1979, đồng chí Triết Giang về tỉnh nhận công tác mới; ngày 14/11/1979, Ban Chấp hành Đảng bộ bầu đồng chí Võ Danh làm Bí thư Huyện ủy.
Kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khánh Ninh lần thứ nhất, Đại hội khẳng định: “Những thành tích đã đạt được trong 2 năm qua là tương đối toàn diện, nổi nhất là: Đã giải quyết được vấn đề lương thực và hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp; công tác an ninh chính trị, an toàn xã hội được giữ vững; đội ngũ cán bộ được trưởng thành”[3]. Đồng thời Đại hội chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế: Sản lượng lương thực tăng nhưng hiệu quả không cao, năng suất cây trồng thấp, nhất là trên vùng đất mới khai hoang; chăn nuôi phát triển chậm. Nạn chặt phá rừng bừa bãi chưa được ngăn chặn có hiệu quả; trồng rừng tỷ lệ cây sống đạt quá thấp. Tổ chức sản xuất và quản lý ngành hải sản yếu kém, các chỉ tiêu phát triển đều đạt thấp. Hoạt động phân phối lưu thông, thu mua nắm hàng còn yếu; có nhiều biểu hiện tiêu cực trong các cửa hàng quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể còn nhiều mặt hạn chế, nhất là cơ sở. Tình trạng vi phạm quyền làm chủ tập thể xảy ra nhiều nơi nhưng chậm khắc phục. Đại hội đã quyết định phương hướng, nhiệm vụ, các chủ trương công tác quan trọng những năm tới là “Đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống nhân dân; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu của chủ nghĩa xã hội, từng bước xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông - công - ngư - lâm nghiệp. Tăng cường quốc phòng toàn dân, bảo đảm an ninh chính trị địa phương”[4]. Đồng thời đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp trong hai năm 1979 - 1980 của Đảng bộ Ninh Hòa. Đến năm 1980, phấn đấu đạt một số chỉ tiêu quan trọng: Khai hoang thêm 2.000ha; tổng sản lượng lương thực quy thóc 49.000 tấn; đàn heo 15.000 con; đàn trâu bò 13.300 con. Khai thác 10.000m3 gỗ; trồng 1.300ha rừng. Đánh bắt 3.500 tấn cá; sản xuất 30.000 tấn muối. Tăng nhanh tổng giá trị sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, trong đó xuất khẩu chiếm 40%; sản xuất 25 triệu viên gạch ngói…
Cùng với quá trình chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng bộ huyện, Đảng bộ quan tâm lãnh đạo công tác bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân 2 cấp huyện và xã theo Quyết định số 991/QĐ-UB, ngày 23/4/1979 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Nhờ công tác chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ, cuộc bầu cử hội đồng nhân dân cấp huyện và xã đã diễn ra thành công, đúng pháp luật và an toàn. Ngày 5 - 6/7/1979, Hội đồng nhân dân huyện khóa II họp phiên đầu tiên bầu Ủy ban nhân dân gồm 13 Ủy viên; bầu đồng chí Trần Việt Á, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy làm Chủ tịch; bầu Phó Chủ tịch gồm 3 đồng chí là: Trần Thị, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy; Lê Văn Chi, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy; Hoàng Tám[5], Huyện ủy viên; bầu đồng chí Nguyễn Xuân Hàm làm Ủy viên Thư ký Ủy ban.
Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 9, huyện gặp nhiều thuận lợi. Từ ngày 12 đến 19/10/1979, tại thành phố Nha Trang, Đảng bộ tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ hai. Đại hội đã chỉ rõ phương hướng nhiệm vụ những năm tới và trong ba năm (1980 -1981) là tập trung vào 3 nhiệm vụ cấp bách: Đẩy mạnh sản xuất, ổn định và bảo đảm đời sống nhân dân, trong đó coi trọng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; tăng cường quốc phòng - an ninh, sẵn sàng chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh khắc phục những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế - xã hội. Đồng thời xác định phải coi trọng công tác xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện. Từ năm 1979 - 1981, tỉnh phân cấp mạnh về thẩm quyền quản lý cho huyện chuyển dần từ một cấp quản lý hành chính thành một cấp nhà nước quản lý kế hoạch, có ngân sách và toàn diện về kinh tế - xã hội, một cấp được quyền chủ động tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động trên địa bàn huyện. Huyện tiếp nhận nhiều đơn vị trên lĩnh vực sản xuất, phân phối, lưu thông, văn hóa - xã hội đóng trên địa bàn do tỉnh quản lý như các công ty, trạm trại, xí nghiệp, lâm trường, cửa hàng, bệnh viện, trường học... Đây là thuận lợi để huyện phát huy tinh thần độc lập, dám nghĩ, dám làm, chủ động tổ chức sản xuất và phát triển văn hóa - xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Tháng 8/1979, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (khóa IV) đề ra những chủ trương cải tiến một bước chính sách kinh tế, làm cho sản xuất ‘‘bung ra’’ đúng hướng; cho phép nông dân sau khi hoàn thành nghĩa vụ lương thực và thực phẩm được bán sản phẩm dư thừa theo giá thỏa thuận cho Nhà nước hoặc bán ra thị trường. Đối với các xí nghiệp, Hội nghị chủ trương đảm bảo quyền tự chủ sản xuất, kết hợp ba lợi ích nhà nước, tập thể và người lao động. Đó là những bước đi ban đầu “cởi trói” cho sản xuất, kinh doanh, được nhân dân đón nhận và đi nhanh vào cuộc sống. Bên cạnh những chỉ đạo trên, ngày 10/6/1979, trong chuyến thăm và làm việc với tỉnh Phú Khánh, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Trung ương Đảng về thăm huyện, đến thăm Nhà máy Xi măng Hòn Khói và hộ gia đình nông dân sản xuất giỏi ở xã Ninh Phụng. Sau này, ngày 17/1/1984, đồng chí còn đến thăm Ninh Hòa lần thứ 2. Đồng chí đã nói chuyện với cán bộ huyện, cổ vũ động viên Đảng bộ, quân và dân toàn huyện vượt qua khó khăn, ra sức phát triển kinh tế - xã hội vững mạnh. Nguồn động viên đó được nhân lên cùng với sức mạnh tinh thần được tạo ra bởi hành trình rước đuốc Bác Hồ theo chủ trương của Trung ương và Chỉ thị số 9-CT/TU, ngày 28/2/1980 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Cùng với cả nước, cả tỉnh, ngày 21/3/1980, huyện tổ chức rước đuốc Bác Hồ, mít tinh trọng thể tại sân vận động Ninh Hòa[6]. Hành trình rước đuốc Bác Hồ về huyện, rồi về các xã được nhân dân trong huyện phấn khởi đón nhận bằng các phong trào thi đua của mọi tầng lớp nhân dân. Đó cũng chính là các phong trào khởi đầu cho bước chuyển từ phong trào thi đua Đồng Khởi trước đây sang phong trào thi đua mới “4 nhất”[7] với tinh thần “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua” do Ủy ban nhân dân tỉnh phát động đầu năm 1981. Với những thuận lợi nêu trên, Đảng bộ lãnh đạo nhân dân toàn huyện vượt qua mọi khó khăn, bước đầu tìm tòi, thử nghiệm những bước đi mới trong phát triển kinh tế với quyết tâm cao.
Đổi mới bước đầu cơ chế quản lý kinh tế, vượt qua thời kỳ khó khăn
Theo hướng xây dựng huyện có cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp, Đảng bộ huyện tập trung chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhất, làm cơ sở cho các lĩnh vực khác phát triển. Trong thời điểm này toàn huyện bị hạn hán nặng và kéo dài, ảnh hưởng trên 60% diện tích lúa và hầu hết diện tích hoa màu. Nạn đói xuất hiện trên diện rộng. Ngày 17/7/1979, Hội nghị Huyện ủy họp lần thứ 2 (mở rộng) đã xác định nhiệm vụ cấp bách trước mắt là chống hạn, cứu đói. Sau hội nghị, Ủy ban nhân dân huyện thành lập Ban Chỉ đạo chiến dịch chống hạn, cứu đói; xuất trên 300 tấn gạo để cứu đói cho dân[8]. Đồng thời vận động nhân dân phát huy tinh thần “lá lành đùm lá rách” giúp nhau vượt qua thiếu đói giáp hạt. Trước yêu cầu bức thiết do hạn hán đe dọa mất mùa, huyện huy động toàn bộ máy bơm nước, tập trung nhiên liệu, nhân lực đào ao, vét giếng, nạo lòng mương, điều tiết chia nước hợp lý từng ngày và cho từng thửa ruộng. Sau 2 tháng toàn huyện đã cứu được gần 1.200ha/2.300ha bị hạn. Thành công này là nhờ sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của nhân dân nói chung và nông dân toàn huyện nói riêng. Để bù lại thiệt hại do hạn gây ra, khi thời tiết có chiều hướng thuận lợi, huyện phát động chiến dịch sản xuất vụ mùa, trồng thêm rau, màu lương thực. Đây là chiến dịch có quy mô lớn sau ngày tái lập huyện, huy động hàng ngàn lao động nông nghiệp, cán bộ, công nhân viên chức, du kích, bộ đội, học sinh… tham gia. Trong thời gian một tuần, đã gieo cấy gần 500ha lúa vụ 12, trồng trên 1.200ha cao lương, bắp, khoai lang… Nhờ vậy, tổng sản lượng lương thực năm 1979 tuy có giảm nhưng cũng đạt trên 30.700 tấn, trong đó màu quy thóc chiếm gần 20%, góp phần quan trọng khắc phục nhanh tình hình thiếu đói.
Vượt qua khó khăn trong năm đầu tiên tái lập huyện, sản xuất nông nghiệp có đà phát triển vào các năm sau. Cùng với tiếp tục khai hoang thêm gần 1.000ha trong hơn 3 năm (1979 - 1982), nâng tổng diện tích canh tác cây màu lương thực lên gần 4.000ha, huyện dồn sức tập trung thâm canh cây lúa. Qua mỗi vụ và hàng năm, từ huyện đến cơ sở đều mở hội nghị trao đổi, rút kinh nghiệm các biện pháp kỹ thuật thâm canh như về thời vụ gieo trồng, chọn giống tốt, kháng rầy với cơ cấu giống hợp lý, cung ứng kịp thời vật tư, phân bón... Đặc biệt, công tác thủy lợi luôn được luôn coi là biện pháp hàng đầu. Hàng năm, các xã huy động lao động, vốn liếng của dân và hợp tác xã thường xuyên tu bổ, xây dựng thêm các đập bổi, các trạm bơm, nạo vét và đào mới kênh mương, đê ngăn mặn... đảm bảo tưới chắc cho gần 4.300ha lúa 2 vụ.
Theo quy hoạch của Trung ương, một trong những vùng chuyên canh cây bông vải của cả nước được bố trí tại xã Ninh An. Đầu năm 1980, Công ty Bông Trung ương thành lập Nông trường Bông Đá Bàn. Ngày 10/6/1980, Ủy ban nhân dân tỉnh ra Quyết định số 1001/QĐ-UB phân định ranh giới cho Nông trường Bông quản lý với tổng diện tích đất tự nhiên 5.462ha, trong đó đất nông nghiệp 4.630ha. Đất quy hoạch để trồng bông là 2.800ha. Huyện cũng bàn giao công trường khai hoang Đá Bàn cho Nông trường Bông quản lý với diện tích 422ha đất đã khai hoang và 119 thanh niên xung phong. Để chuẩn bị đón nước của công trình thủy lợi Hồ Đá bàn theo sự chỉ đạo của tỉnh, ngày 20/11/1980, Ủy ban nhân dân huyện ra quyết định số 439/QĐ-TC thành lập Công trường thủ công Đá Bàn. Ban Chỉ huy công trường do đồng chí Lê Văn Chi, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện làm Trưởng ban. Công trường tiếp nhận hàng chục vạn ngày công trong huyện và trong tỉnh, bằng lao động sức người với công cụ lao động thủ công đã đào đắp hàng chục vạn m3 đất đá, hoàn thành hệ thống kênh mương cấp I, cấp II[9]. Một sự kiện lớn làm nức lòng nhân dân trong huyện là ngày 2/4/1981, công trình hồ thủy lợi Đá Bàn được Bộ Thủy lợi và tỉnh khởi công xây dựng. Hồ có dung tích thiết kế chứa trên 79 triệum3 nước, thân đập có chiều cao 26,2m và chiều dài 347,5m. Sau khi hoàn thành, hồ sẽ bảo đảm tưới cho trên 7.800ha đất canh tác, chủ yếu là lúa và cây bông. Đây là công trình thủy lợi lớn, có sự đóng góp công sức của nhân dân trong tỉnh (gồm thành phố Nha Trang, các huyện Vạn Ninh, Diên Khánh, Cam Ranh).
Đi đôi với đẩy mạnh sản xuất, Ban Thường vụ Huyện ủy tăng cường chỉ đạo củng cố, kiện toàn các hợp tác xã nông nghiệp theo Chỉ thị số 134-CT/TU, ngày 16/6/1979 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Cuối năm 1979, huyện có 29 hợp tác xã nông nghiệp, quản lý gần 9.400 ha đất canh tác, chiếm trên 70% tổng diện tích đất canh tác toàn huyện; thu hút hơn 21.000 hộ, chiếm trên 99% tổng số hộ nông dân. Các hợp tác nông nghiệp trong thời gian đầu đóng góp tích cực vào việc giải quyết cơ bản đủ lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện, làm nghĩa vụ với Nhà nước. Đó là kết quả sản xuất nổi bật nhất, có ý nghĩa nhiều mặt, góp phần quan trọng làm cho đời sống nông dân từng bước ổn định và bảo đảm an ninh nông thôn. Bên cạnh mặt tích cực đó, thời gian về sau, hợp tác xã nông nghiệp bộc lộ nhiều khuyết, nhược điểm. Khi thành lập hợp tác xã, hộ nông dân tham gia phải đóng góp các tư liệu sản xuất mà mình có được bao gồm: ruộng đất, trâu, bò, máy móc, cày, bừa… để sở hữu chung, dưới sự quản lý của ban chủ nhiệm hợp tác xã và các đội sản xuất. Mọi việc làm và kết quả thu hoạch được đều do ban chủ nhiệm và các đội sản xuất quản lí, điều hành và phân phối. Hình thức tổ chức sản xuất ở các hợp tác xã là khoán việc. Khoán việc không quy trách nhiệm cho ai, xã viên không thấy được quyền lợi trước mắt mà mình sẽ được hưởng trên cánh đồng chung. Mọi người làm việc theo tiếng kẻng, buổi sáng đủng đỉnh ra đồng, làm việc cầm chừng, hết giờ ra về, không quan tâm đến chất lượng công việc. Theo chế độ khoán việc, công sức lao động của xã viên được qui thành công, điểm[10]. Cuối mỗi vụ đều dựa vào công điểm để chia hoa lợi. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng chậm, không ổn định, sản lượng lương thực và đàn gia súc không đạt kế hoạch. Bên cạnh cơ chế quản lý bất cập đó, còn bộc lộ nhiều bất hợp lý và lệch lạc trong quá trình xây dựng hợp tác xã. Cải tạo nông nghiệp nóng vội, giản đơn, vận dụng quy mô, hình thực, bước đi chưa sát hợp với điều kiện cụ thể về tự nhiên, xã hội, trình độ quản lý của từng xã. Một số hợp tác xã quy mô lớn, hình thức cao không đủ sức quản lý; nhiều tập đoàn sản xuất chỉ là hình thức, thực chất vẫn là làm ăn cá thể. Tất cả những yếu tố trên dẫn đến sau một thời gian hợp tác hóa, sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng trì trệ, “cha chung không ai khóc”. Người nông dân không còn thiết tha với công việc của hợp tác xã; tình trạng “dong công, phóng điểm” ngày càng phổ biến… Hiệu quả sản xuất phần đông hợp tác xã rất thấp, hơn 1/3 hợp tác xã yếu kém, làm ăn không có hiệu quả. Nhiều tiêu cực xuất hiện, phổ biến là vi phạm chính sách, tham ô, bất hợp lý trong phân phối, lạm sát trâu bò… Mặt khác, các hợp tác xã phải thực hiện chế độ bao cấp cho một số hoạt động như nhà trẻ, mẫu giáo, đài truyền thanh. Nhiều cơ quan nhà nước và cán bộ, công nhân viên chức quan hệ xin giúp đỡ… tạo nên áp lực bao cấp lớn, gây ảnh hưởng xấu đến tư tưởng của bà con xã viên. Do không mang lại lợi ích thỏa đáng, đời sống xã viên khó khăn nên động cơ lao động hăng hái giảm dần; xã viên thiếu gắn bó với hợp tác xã; nhiều người chuyển vùng đi địa phương khác ngoài tỉnh để làm ăn.
Tình hình trên không những ở Ninh Hòa mà còn là tình hình chung trong cả nước. Ngày 13/1/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) ban hành Chỉ thị 100-CT/TW về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (còn gọi tắt là khoán 100, khoán sản phẩm, hay khoán sản). Chỉ thị đã mở ra một hướng đi mới, cho phép bước đầu khôi phục quyền tự chủ trong sử dụng ruộng đất và lao động của từng hộ xã viên, được nông dân cả nước phấn khởi đón nhận và hăng hái thực hiện. Quán triệt Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư và Chỉ thị số 19-CT/TUcủa Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Huyện ủy tìm hướng vận dụng tinh thần chỉ thị của Đảng để tổ chức lại sản xuất phù hợp với thực tế địa phương. Theo đó, Ban Thường vụ chỉ đạo tổ chức lại quy mô một số hợp tác xã; kiện toàn ban quản trị các hợp tác xã; tổ chức bồi dưỡng, đào tạo lại hầu hết cán bộ và kế toán hợp tác xã. Các hợp tác xã có quy mô lớn như Ninh Quang, Ninh Diêm... tổ chức lại thành 2 hợp tác xã, hoặc tổ chức dãn dân, xây dựng cơ sở 2 như thị trấn Ninh Hòa... Một số hợp tác xã khác thì chuyển sang tập đoàn sản xuất cho phù hợp như Ninh Sim, Ninh Hải... Cuối năm 1982, toàn huyện có 29 hợp tác xã, trong đó 1 hợp tác xã nông - diêm; 17 tập đoàn sản xuất, 5 tổ đoàn kết sản xuất ở Ninh Tây, Ninh Tân. Vấn đề trọng tâm được Huyện ủy và Ban Thường vụ Huyện ủy thảo luận kỹ là phải từng bước cải tiến hình thức khoán, bao gồm “khoán việc”, “khoán sản phẩm” của hợp tác xã cho đội sản xuất và xã viên gắn với chấn chỉnh tổ chức, cải tiến công tác quản lý hợp tác xã. Trong quá trình thực hiện, chú ý áp dụng các biện pháp quản lý đối với tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất - kỹ thuật của hợp tác xã, tránh tình trạng ồ ạt giao khoán mà để lãng phí, hư hỏng tài sản tập thể. Trên cơ sở nắm vững và thực hiện nghiêm túc mục đích, nguyên tắc và phương hướng cải tiến công tác khoán đã được thống nhất, các cơ quan chức năng hướng dẫn chặt chẽ việc lập kế hoạch và giao khoán các loại cây trồng, vật nuôi. Vụ 8/1981, tiến hành làm thí điểm 28 đội sản xuất cơ bản ở 6 hợp tác xã. Nhiều đoàn công tác của huyện được thành lập xuống cùng với hợp tác xã vừa làm vừa rút kinh nghiệm, uốn nắn, sửa chữa sai sót. Nhiều đồng chí cán bộ bám hợp tác xã 6 - 7 tháng, có đồng chí cả năm xuống giúp các hợp tác xã yếu kém như Ninh Phước I, Ninh Lộc, Ninh Xuân, Ninh Phú... Từ vụ 12/1981, huyện chỉ đạo khoán đại trà và đến vụ 3/1982, tất cả hợp tác xã và đội sản xuất đều thực hiện “khoán 100”. “Khoán 100” đã mang đến khí thế lao động rất sôi nổi, tích cực của xã viên. Một số hợp tác xã trước đây thường để lãng phí đất, nay đã đưa vào sản xuất. Việc cải tạo mặt bằng đồng ruộng, đắp bờ, nạo vét kênh mương giữ nước được thực hiện tốt hơn. Thời vụ bảo đảm đúng theo lịch chỉ đạo gieo trồng, năng suất lao động tăng hơn trước. Tình trạng “dong công, phóng điểm”, kế hoạch lỏng lẻo, định mức không rõ ràng trước đây dần được khắc phục. Nhiều gia đình sau khi nhận khoán đã tranh thủ sản xuất, đi sớm, về muộn, lao động chăm chỉ, không còn tình trạng phải đôn đốc, thúc giục như trước... Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Năng suất lúa 2 vụ bình quân tăng lên trên 68 tạ/ha/năm, nhiều hợp tác xã đạt 80 - 86 tạ/ha/năm như Ninh Quang, thị trấn Ninh Hòa, Ninh Đa, Ninh Giang, Ninh Phụng... Đối với ngành chăn nuôi, Ban Thường vụ chỉ đạo tập trung phát triển chăn nuôi gia đình, thực hiện nghiêm túc chính sách dành 15% diện tích ruộng đất cho chăn nuôi tập thể; 5% diện tích cho kinh tế gia đình. Toàn huyện có trên 50% hợp tác xã có trại chăn nuôi heo tập thể, phần lớn đàn giống nái do Trại chăn nuôi Heo giống cấp II của huyện cung cấp. Các trại chăn nuôi heo chủ yếu là sản xuất heo giống thương phẩm cung cấp cho cán bộ và nhân dân nuôi thịt. Một hình thức chăn nuôi tập thể mới được áp dụng là chăn nuôi gia công các loại gia súc gồm heo, trâu bò. Hợp tác xã giao con giống, thức ăn, công điểm cho hộ gia đình nuôi; hộ gia đình giao sản phẩm heo hơi, sức kéo trâu bò, phân bón cho hợp tác xã. Các hộ được giao khoán gia công đều phấn khởi, tích cực chăm lo để được hưởng phần vượt giao khoán. Hàng năm, đàn gia súc được Trạm Thú y huyện và cán bộ thú y của các xã tiêm phòng. Nhờ đó hạn chế được bệnh dịch.
Kết quả “khoán 100” góp phần quyết định gia tăng sản lượng lương thực và đàn gia súc, gia cầm. So với 1979, năm 1982, mặc dù bị hạn nặng nhưng tổng sản lượng lương thực qui thóc vẫn đạt trên 36.000 tấn, tăng trên 12%; đàn trâu bò 15.000 con, tăng 18,1%; đàn heo 18.000 con tăng gấp 2 lần. Nhiều hợp tác xã còn phát triển chăn nuôi vịt đàn. Từ những kết quả sản xuất, đời sống của phần lớn xã viên được cải thiện một bước, phần tích lũy của tập thể cũng tăng lên và làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước. Nhiều hợp tác xã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống sân phơi, nhà kho, làm giao thông nội đồng. Nổi bật nhất là hợp tác xã thị trấn Ninh Hòa, từ vốn tích lũy, năm 1982 đã góp phần cùng nhân dân xây dựng được 6 công trình phục vụ sản xuất và đời sống[11]. Sự vận dụng đúng đắn Chỉ thị 100-CT/TW vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp ở Ninh Hòa đã đem lại hiệu ứng tích cực, không chỉ biểu hiện ở kết quả sản xuất mà quan trọng hơn đã giúp mỗi người nông dân tìm lại được động lực lao động, gắn bó với ruộng đất và cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW không được đồng đều. Bên cạnh những hợp tác xã sản xuất phát triển, có hiệu quả, còn nhiều hợp tác xã lỗ cả phương án lương thực và giá trị, chăn nuôi và ngành nghề. Công tác quản lý còn nhiều yếu kém; cơ sở vật chất kỹ thuật nhìn chung rất hạn chế. Tình trạng tham ô, lãng phí tài sản, vật tư, tiền vốn… diễn ra khá phổ biến. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ quản lý vừa thiếu lại vừa yếu nên phải thường xuyên thay đổi, có hợp tác xã không tìm đủ cán bộ quản lý… “Chúng ta có 29 hợp tác xã, thế mà trong mấy năm qua đã sử dụng 85 người làm chủ nhiệm, 76 người làm kế toán trưởng, 92 người làm trưởng ban kiểm soát và 542 người làm đội trưởng trong tổng số 295 đội sản xuất cơ bản”[12].
Về lâm nghiệp, có nét mới là huyện bắt đầu triển khai giao đất, giao rừng cho các hợp tác xã có rừng quản lý, trồng, tu bổ, cải tạo và kinh doanh rừng theo tinh thần Quyết định số 184/QĐ-HĐBT, ngày 6/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng. Trong hơn 3 năm 1979 - 1982, số lượng khai thác gỗ phục vụ sản xuất và tiêu dùng, khai thác lá buông, cây trắc dây… phục vụ nghề đan lát xuất khẩu đều tăng lên[13]. Tuy nhiên, việc quản lý, bảo vệ rừng và trồng rừng vẫn là những khâu yếu kém chưa khắc phục có hiệu quả. Nạn chặt phá rừng, khai thác gỗ lậu bừa bãi, đốt cây rừng làm than vẫn diễn ra nghiêm trọng. Vì vậy vốn rừng ngày càng giảm xuống nhanh. Đối với ngành thủy sản, do gặp nhiều khó khăn nên việc triển khai công tác thành lập hợp tác xã nghề cá không thực hiện được. Một số tập đoàn sản xuất được thành lập trong những năm 1977 - 1978 chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Sản lượng cá đánh bắt mỗi năm trên 4.000 tấn. Riêng sản xuất muối xây dựng được 2 hợp tác xã; sản lượng muối năm hạn hán thì đạt trên dưới 40.000 tấn, năm mưa nhiều chỉ đạt 15.000 - 20.000 tấn.
Đối với ngành tiểu, thủ công nghiệp, sau khi tái lập huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo thành lập Liên hiệp Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp; tổ chức lại sản xuất ngành nghề theo hướng khôi phục và phát triển các nghề truyền thống theo con đường làm ăn tập thể. Đến cuối năm 1979, huyện có 17 hợp tác xã và tổ hợp tác tiểu thủ công nghiệp, giải quyết việc làm cho trên gần 2.000 lao động[14]. Nhiều sản phẩm tham gia xuất khẩu như hàng mộc mỹ nghệ, mây tre lá… với giá trị xuất khẩu chiếm 10,2% tổng giá trị toàn ngành[15]. Tuy nhiên, sản phẩm còn ít cả về chủng loại và số lượng so với tiềm năng. Việc quản lý, điều hành, ăn chia phân phối trong các hợp tác xã, tổ hợp tác có một số tiêu cực, vi phạm quyền làm chủ của xã viên… Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ hai (khóa II) ngày 10/5/1980, Hội nghị Huyện ủy lần thứ 12 ra Nghị quyết số 236-NQ/HU, ngày 11/7/1980 về đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và tư liệu sản xuất. Trên cơ sở lựa chọn hướng đi thích hợp là dựa vào tài nguyên trong huyện và tiềm lực trong dân để phát triển tiểu thủ công nghiệp, Nghị quyết xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm: Một là, tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa trong tiểu thủ công nghiệp, củng cố các hợp tác xã, tổ hợp tác. Hai là, xây dựng các vùng chuyên canh cây công nghiệp gồm mía, thuốc lá, cói, thầu dầu và dừa. Ba là, phát triển mạnh ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong hợp tác xã nông nghiệp. Giải pháp quan trọng là động viên trí sáng tạo và vốn tự có của nhân dân để xây dựng hợp tác xã, tổ hợp tác. Tuy nhiên, do kìm hãm bởi cơ chế quản lý nên sản xuất chậm phát triển, nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác buông lỏng quản lý, thu nhập thấp, nhiều xã viên bỏ ra ngoài làm ăn tự do. Đúng lúc đang gặp khó khăn thì ngày 2/11/1981, Chính phủ ra các Quyết định 25/CP và 26/CP tạo điều kiện thông thoáng về chính sách cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV). Thực hiện các quyết định của Chính phủ và chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy tập trung chỉ đạo giao quyền tự chủ từng phần cho các cơ sở sản xuất, cho phép bán sản phẩm ra thị trường sau khi thực hiện đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước. Đây là động lực mới để các hợp tác xã tìm hướng khắc phục khó khăn đẩy mạnh sản xuất. Các đơn vị tập thể nhanh chóng đổi mới bước đầu phương pháp quản lý, áp dụng cơ chế khoán đến từng khâu sản xuất, khoán gọn đến phân xưởng, từng tổ, từng xã viên theo định mức cụ thể; trả lương khoán, lương theo sản phẩm cho người lao động, phần vượt khoán được thưởng xứng đáng. Những đổi mới đó đã mang lại một khí thế mới, động viên xã viên hăng hái làm việc thêm giờ, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Tuy nhiên, đây cũng là thời gian sản xuất gặp nhiều khó khăn hơn, nhất là khan hiếm vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng... Trong khó khăn đó, cấp ủy, chính quyền các cấp trăn trở tìm biện pháp tháo gỡ. Căn cứ vào tiềm năng và tài nguyên sẵn có, Huyện ủy chủ trương tập trung phát triển mạnh 2 ngành mũi nhọn: Một là, sản xuất vật liệu xây dựng, chủ yếu là gạch ngói. Đây là một trong sản phẩm chủ lực của tiểu, thủ công nghiệp; hàng năm sản xuất trên 12 triệu viên gạch ngói, trong đó riêng Xí nghiệp Gạch ngói công tư hợp doanh Ninh Hòa sản xuất trên 7 triệu viên. Hai là, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu bao gồm mộc mỹ nghệ và hàng mây tre lá, trong đó trọng tâm là hàng đan lá buông xuất khẩu. Đối với ngành cơ khí, tạo điều kiện để Hợp tác xã Cơ khí thị trấn Ninh Hòa nâng chức năng, nhiệm vụ lên đóng vai trò là cơ khí huyện. Huyện khuyến khích các cơ sở sản xuất chủ động khai thác, tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu và nguồn lao động có tay nghề cao tại chỗ. Đồng thời tiến hành liên doanh, liên kết kinh tế với trong và ngoài huyện, bổ sung thêm nguồn vật tư để duy trì sản xuất... Kết quả đổi mới bước đầu đã tạo ra một số chuyển biến khá tích cực, kích thích các đơn vị sản xuất tiểu, thủ công nghiệp phát triển. Trong 3 năm 1980 - 1982, toàn huyện tăng thêm 20 đơn vị tập thể sản xuất mới, nâng tổng số lên 25 đơn vị, thu hút trên 3.500 lao động. Các sản phẩm mộc mỹ nghệ, hàng đan lá buông xuất khẩu ngày càng nhiều hơn và trở thành nguồn hàng chủ lực trong kim ngạch xuất khẩu của huyện lúc đó, nổi bật là các hợp tác xã Vĩnh Phước, Tân lập... Đặc biệt, Hợp tác xã Cơ khí thị trấn Ninh Hòa chuyển hướng đóng vai trò cơ khí huyện thành công. Hợp tác xã tập trung sản xuất các loại công cụ lao động, một số phụ tùng máy móc… phục vụ cho các ngành sản xuất nông, lâm, ngư, tiểu thủ công nghiệp. Năm 1982, riêng giá trị sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp chiếm 60% tổng giá trị tổng sản phẩm của hợp tác xã. Bên cạnh các ngành nghề chủ yếu trên, các nghề thủ công khác cũng phát triển, nhất là sản xuất hàng tiêu dùng như nước mắm, đường thủ công, giấy viết, dầu dừa, xà phòng, đồ gốm, gạch hoa trang trí, bánh kẹo, guốc dép… Tuy nhiên, tất cả các cơ sở sản xuất này hình thành một cách manh mún, có quy mô nhỏ bé, kỹ thuật lạc hậu, hướng phát triển là “tự sản, tự tiêu”, nên phần lớn chỉ tồn tại được một vài năm. Trong những năm 1979 - 1982 và một số năm tiếp theo, hầu hết các hợp tác xã nông nghiệp đều chú ý phát triển ngành nghề như sản xuất gạch ngói, nông cụ cầm tay, các mặt hàng đan lát phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng… Các đội chuyên hoặc tổ sản xuất ngành nghề được thành lập để thực hiện nhiệm vụ. Từ những cố gắng đó, giá trị tổng sản phẩm tăng dần qua các năm[16], năm 1982 tăng 3,3 lần, xuất khẩu tăng 6,8 lần so với năm 1979.
Để phục vụ sản xuất và nhu cầu đi lại ngày càng lớn của nhân dân, hệ thống giao thông nông thôn được chú ý tu sửa, nâng cấp, làm mới. Trong điều kiện ngân sách khó khăn, với phương châm “dân làm là chính, kỹ thuật phổ thông là chính”, huyện tận dụng nguồn vật tư, nguyên liệu tại chỗ để làm mới, duy tu, bảo dưỡng các trục đường chính liên xã, liên thôn. Hàng năm, các xã đã huy động hàng chục ngàn ngày công làm mới và nâng cấp hàng chục km đường giao thông, xây dựng hàng trăm cống qua đường, hàng chục cầu làm bằng gỗ, bằng ghi sắt tận dụng sau chiến tranh[17]. Cuối năm 1979, Cảng Hòn Khói được tỉnh xây dựng phục hồi, xà lan 200 tấn có thể ra vào thuận tiện để vận chuyển hàng hóa. Năm 1982, các đường liên xã bảo đảm xe ô tô đi đến được trung tâm các xã. Liên lạc bằng điện thoại cũng nối thông suốt đến cơ sở xã.
Gắn với phát triển sản xuất, phân phối lưu thông bước đầu có những chuyển biến mới. Sau khi được tỉnh phân cấp quản lý theo Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 24/01/1978 của Bộ Chính trị (khóa IV) về công tác xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo nhanh chóng củng cố, kiện toàn và thành lập các công ty quan trọng như Công ty Thương nghiệp, Công ty Lương thực, Công ty vật tư, Trạm Xuất khẩu Ninh Hòa… Tháng 10/1979, Chính phủ ra Quyết định 373/CP và 374/CP xóa các trạm kiểm soát “ngăn sông, cấm chợ”. Theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện bãi bỏ việc kiểm soát, khám xét làm ngăn trở việc lưu thông hàng hóa; tiến hành cấp giấy đăng ký kinh doanh những mặt hàng Nhà nước cho phép đối với những người buôn bán nhỏ, kể cả những người buôn chuyến. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm tra và ngăn ngừa các hành động tàng trữ, lưu thông trái phép những vật tư, hàng hóa mà Nhà nước cấm tư nhân buôn bán; cho phép lưu thông những sản phẩm hàng hóa ngoài thị trường mà không phải nộp thuế sau khi đã làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước. Đầu năm 1981, huyện bắt đầu triển khai chính sách hai hệ thống giá theo theo sự chỉ đạo của tỉnh thực hiệnNghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 23/6/1980 của Bộ Chính trị (khóa IV)về cải tiến công tác phân phối,lưu thông. Hai hệ thống giá gồm: Một là, giá ổn định do Nhà nước quy định như giá thu mua trong nghĩa vụ, giá theo hợp đồng kinh tế hai chiều, giá bán lẻ những mặt hàng thiết yếu… Hai là, giá thỏa thuận được vận dụng linh hoạt trong hoạt động kinh doanh. Các công ty quốc doanh của huyện và hợp tác xã mua bán được kinh doanh các mặt hàng ngoài hợp đồng kinh tế hai chiều hoặc ngoài nghĩa vụ theo giá thỏa thuận. Mặt hàng tập trung kinh doanh lúc đó chủ yếu là lương thực, thực phẩm, một số hàng tiêu dùng thiết yếu. Với những đổi mới trên, trật tự phân phối, lưu thông trong huyện bước đầu được lập lại, tạo điều kiện tốt hơn cho việc nắm hàng, nắm tiền, tổ chức thu mua các nguồn hàng vào tay Nhà nước và tập thể... Năm 1982, các chỉ tiêu trên lĩnh vực phân phối lưu thông đều vượt kế hoạch được giao, đáp ứng yêu cầu cung cấp đủ các mặt hàng theo tiêu chuẩn chế độ cho cán bộ, công nhân viên và các đối tượng khác trên địa bàn huyện; hoàn thành các chỉ tiêu giao nộp sản phẩm cho tỉnh như lương thực, heo hơi, bò hơi, thuốc lá... Thu ngân sách tăng 4,5 lần so với 1979[18]; giảm được bội chi ngân sách. Ngân hàng bảo đảm nguồn tiền mặt phục vụ sản xuất và đời sống; nhờ sản xuất phát triển nên huy động gửi tiền tiết kiệm tăng 72,7% so với 1981.
Với sự vận dụng sáng tạo nghị quyết của Đảng vào điều kiện cụ thể của huyện, những đổi mới đầu tiên về cơ chế quản lý kinh tế đã đưa đến những chuyển biến tiến bộ nhất định trên các lĩnh vực kinh tế huyện. Sự chuyển biến đó dù mới chỉ là bước đầu nhưng đã khơi dậy được sức sáng tạo của dân và tiềm năng vốn có của địa phương, thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là các ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Kết quả đạt được thực sự góp phần quan trọng để toàn huyện vượt qua nhiều khó khăn trong những năm 1979 - 1982 đầy thử thách, giải quyết được nhiều bức xúc, thiếu thốn trong sản xuất và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, những đổi mới đó chưa thực sự tạo ra động lực giải phóng được sức sản xuất, sức lao động. Tình hình sản xuất của các đơn vị kinh tế tập thể và quốc doanh vẫn trong tình trạng thiếu vốn, thiếu vật tư, nguyên, nhiên liệu...; sản xuất, kinh doanh vẫn kém hiệu quả; giá cả thị trường tăng nhanh, việc nắm hàng tay, nắm tiền vào tay Nhà nước ngày càng trở nên khó khăn. Ngoài tiêu chuẩn chế độ mua theo tem, phiếu, các đối tượng còn được mua phân phối giá cao theo sổ mua hàng. Tuy nhiên, do thiếu nguồn hàng nên việc phân phối, bán các mặt hàng theo giá cao gặp nhiều khó khăn. Hình ảnh về tình trạng người mua thực phẩm phải xếp hàng chờ đợi, mất nhiều thời gian và thái độ hách dịch của một số nhân viên bán hàng là dấu ấn phản ánh hiện thực sâu sắc về những khó khăn gay gắt trong đời sống xã hội thời gian này.
Đi đôi với phát triển kinh tế, Đảng bộ quan tâm lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa mới, phát triển các lĩnh vực xã hội. Đầu những năm thập niên 80 này, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục thể thao diễn ra khá sôi nổi. Hưởng ứng 3 phong trào là hát, múa tập thể; hát dân ca, biểu diễn nhạc cụ dân tộc; biểu diễn tấu nói và kịch ngắn do tỉnh phát động, toàn huyện nơi nào cũng tổ chức phong trào văn nghệ. Hầu hết các xã, thị trấn, trường học, đơn vị sản xuất lớn đều thành lập đội văn nghệ. Đây là quãng thời gian huyện phục hồi mạnh mẽ nhất các làn điệu dân ca. Một số câu lạc bộ văn nghệ ra đời như đờn ca cải lương tài tử, dân ca bài chòi, thơ… Sân bãi ở các xã cũng được hình thành nhiều nhất trong thời gian này, tạo điều kiện đưa về cơ sở các hoạt động văn nghệ, thể thao, chiếu bóng. Phong trào phát triển mạnh, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo nâng cao chất lượng phong trào, tổ chức các cuộc hội diễn văn nghệ cụm xã, hội diễn toàn ngành… Năm 1980 là năm đầu tiên và định kỳ các năm sau này, huyện đều tổ chức hội diễn văn nghệ quần chúng toàn huyện. Bên cạnh đó, huyện còn mời nhiều đoàn nghệ thuật ngoài huyện về biễu diễn phục vụ nhân dân nhiều đêm liền ở trung tâm huyện, ở nhiều xã. Thêm vào đời sống văn hóa, phong trào thể dục, thể thao cũng phát triển mạnh. Huyện liên tục tổ chức các giải bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, giải việt dã truyền thống, các đại hội khỏe… Qua đó, xây dựng các đội, đoàn thể thao tham gia các giải thi đấu cấp tỉnh, đạt nhiều giải cao. Năm 1979, huyện có cá nhân đạt giải cao trong giải việt dã tỉnh và toàn quốc, được phong kiện tướng điền kinh tham gia trong đoàn thể thao Việt Nam đi dự Đại hội Olympic quốc tế lần thứ 20 tại Matxcova. Đây là kiện tướng điền kinh cấp quốc gia đầu tiên của thể thao Ninh Hòa và thể thao tỉnh[19]. Đặc biệt, với tinh thần “khỏe để bảo vệ Tổ quốc”, huyện tổ chức cuộc xuống đường của trên 700 thanh niên, học sinh hưởng ứng lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước ngày 5/3/1979. Đối với công tác thông tin, thời gian này tập trung xây dựng hệ thống truyền thanh và các đội thông tin cổ động xã, thị trấn. Đến năm 1982, phần lớn các xã đều có đài truyền thanh. Đội (hoặc tổ) thông tin xã được trang bị xe đạp gắn với loa, đài... Nơi nào không có điều kiện thì động viên anh em trong đội sử dụng phương tiện cá nhân, len lỏi vào tận thôn xóm đi làm nhiệm vụ tuyên truyền. Hoạt động thông tin cổ động sôi nổi nhất là tuyên truyền gắn với hình thức văn hóa văn nghệ. Nhiều tổ, đội ở cơ sở, đặc biệt là đội thông tin cổ động của huyện tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dưới hình thức sân khấu hóa rất phong phú, sinh động, thu hút đông đảo nhân dân đến nghe. Đây là phương pháp tuyên truyền có hiệu quả cao, góp phần cùng các phương tiện thông tin khác phục vụ đắc lực nhiệm vụ tuyên truyền, nhất là nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, các sự kiện chính trị quan trọng như rước đuốc Bác Hồ, đại hội đảng bộ các cấp, bầu cử Quốc hội khóa VII và hội đồng nhân dân… Ngoài ra, phần lớn các xã, đơn vị thành lập thư viện hoặc phòng đọc sách báo, tủ sách cơ quan, tủ sách hợp tác xã… đưa đến cho nhân dân nhiều thông tin, tri thức bổ ích về kinh tế, xã hội và đời sống. Đi đôi với các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa mới, việc bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan, truy quét văn hóa phẩm đồi trụy được triển khai khá quyết liệt đến từng xã. Huyện thành lập đoàn công tác, cùng với xã tập hợp hàng trăm người hành nghề mê tín dị đoan, tiến hành giáo dục, vận động cam kết bỏ nghề. Riêng năm 1982, gần 300 người được học tập, cải tạo tiến bộ. Các hoạt động cúng bái trong lễ, hội dân gian bị xóa bỏ. Tuy nhiên, một số nơi không phân biệt rõ giữa mê tín dị đoan và đời sống văn hóa tâm linh nên một số thiết chế văn hóa cộng đồng như đình, đền, lăng miếu... không được tôn trọng. Một số lễ hội và nghi lễ truyền thống của cộng đồng cư dân cũng bị cấm đoán, mai một dần.
Trong hơn 3 năm (1979 - 1982), các lĩnh vực giáo dục, y tế có nhiều chuyển biến mới. Về giáo dục, thực hiện Nghị quyết 14-NQ/TW, ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị (khóa IV) về cải cách giáo dục, và Quyết định số 135/QĐ-CP, ngày 27/3/1981 của Hội đồng Chính phủ, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo tiến hành sắp xếp lại hệ thống giáo dục phổ thông theo chương trình cải cách. Hệ thống giáo dục phổ thông được sắp xếp, chia làm hai bậc: Bậc phổ thông cơ sở, từ lớp 1 đến lớp 9; bậc phổ thông trung học, từ lớp 10 đến lớp 12. Năm học 1981 - 1982, bắt đầu sáp nhập các trường cấp I và cấp II để thành lập trường phổ thông cơ sở, do huyện quản lý. Trường cấp III Nguyễn Trãi đổi tên thành Trường Phổ thông trung học Nguyễn Trãi, do tỉnh quản lý; năm 1981, trường được xây dựng mới. Đáp ứng yêu cầu của hệ thống giáo dục mới, huyện tập trung xây dựng thêm trường, lớp, trang bị thêm bàn ghế học tập. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, hơn 3 năm, toàn huyện xây dựng thêm gần 110 phòng học. Thời gian này, lần đầu tiên huyện nhận được sự tài trợ kinh phí của tổ chức nước ngoài như UNICEF để xây dựng trường học. Với hệ thống tổ chức giáo dục mới, nội dung chương trình cải cách giáo dục tập trung hướng vào việc nâng cao chất lượng toàn diện đức, trí, thể, mỹ. Phong trào 2 tốt - học tốt, dạy tốt được phát động liên tục trong toàn ngành. Nhờ thầy và trò đều cố gắng nên chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt. Trong năm học đầu tiên thực hiện chương trình cải cách giáo dục (1981 - 1982), kỳ thi tốt nghiệp phổ thông cơ sở có 97% học sinh tốt nghiệp; số giáo viên dạy giỏi và học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh tăng nhiều lần so với năm học trước. Trong đó, nổi bật nhất là giáo viên dạy giỏi của Trường phổ thông cấp I xã Ninh Tây, có sáng kiến giảng dạy con em đồng bào dân tộc thiểu số được báo cáo điển hình tại đại hội ngành giáo dục toàn quốc năm 1981[20]. Tuy nhiên, cuộc cải cách giáo dục gặp nhiều khó khăn, những năm sau bộc lộ một số bất cập, quy mô trường không phù hợp với thực tiễn. Do số lượng học sinh tăng nhanh nên quy mô trường ngày càng lớn, trong khi đó, các điều kiện thực tế như đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý không đủ năng lực; trường lớp, bàn ghế học sinh và thiết bị nhà trường thiếu thốn..., việc học và dạy đều gặp nhiều khó khăn. Cùng với giáo dục phổ thông, thực hiện Chỉ thị số 115-CT/TW, ngày 7/9/1981 của Ban Bí thư (khóa IV), Huyện ủy chủ trương đẩy mạnh công tác bổ túc văn hóa, tập trung tiến hành phổ cập cấp II, III cho cán bộ chủ chốt và thanh niên ưu tú. Từ chủ trương đó, Trường phổ thông lao động huyện và Trường Bổ túc văn hóa dân chính cấp II + III huyện được quan tâm củng cố về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Số học viên luôn được duy trì thường xuyên trên dưới 350, trong đó 250 học viên cấp III. Ở các xã, các lớp học bổ túc văn hóa tại chức vẫn được tổ chức đều đặn, hàng năm có trên 800 học viên, trong đó trên 500 học viên cấp II. Huyện giữ vững là đơn vị hoàn thành nhiệm vụ xóa nạn mù chữ.
Về y tế, huyện dồn sức sửa chữa mở rộng, xây mới cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cho Bệnh viện Đa khoa huyện và các trạm xá xã. Năm 1982, Bệnh viện huyện mở rộng quy mô tăng lên 100 giường bệnh, có thêm khoa ngoại, khoa lây, phòng pha chế dung dịch tiêm truyền, phòng chụp X quang, phòng xét nghiệm. Đi đôi với nâng cấp Bệnh viện, huyện tích cực đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ y tế, nhưng chủ yếu là tăng thêm y sĩ, y tá[21]. Hàng năm, ngành y tế phối hợp với các đoàn thể vận động nhân dân thực hiện phong trào 5 dứt điểm, hoàn thành 3 công trình vệ sinh[22]. Xã Ninh Giang, Ninh Quang, Ninh Hưng là 3 xã đầu tiên hoàn thành 5 dứt điểm. Công tác phòng chống các bệnh dịch nguy hiểm thường xảy ra như dịch tả, dịch hạch, sốt xuất huyết, bại liệt… được đặc biệt quan tâm. Năm nào cũng tổ chức tiêm phòng cho hàng vạn lượt người; trẻ em sơ sinh tại trạm xá, bệnh viện được tiêm phòng một số bệnh truyền nhiễm. Công tác khám và điều trị có nhiều tiến bộ, tỷ lệ tử vong giảm từ 1,93% năm 1979 xuống 0,9% năm 1982.
Đồng thời với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, công tác quốc phòng - an ninh được tăng cường. Từ ngày 14 - 15/5/1979, Quân khu V và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức cuộc diễn tập quân sự quy mô cấp trung đoàn tại xã Ninh Diêm. Mục đích là tập trận chống xâm lược. Cuộc diễn tập có trên 1000 cán bộ, chiến sĩ gồm nhiều binh chủng, có cả xe tăng và tỉnh đội các tỉnh Bình Định, Đắk Lắk, Ninh Thuận tham gia. Trong đó, lực lượng bộ đội địa phương của tỉnh và các đơn vị quân sự đóng trên địa bàn tỉnh làm nòng cốt. Cuộc diễn tập thành công thể hiện tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu của quân và dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau cuộc diễn tập, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo kết hợp chặt chẽ an ninh với quốc phòng, củng cố các vùng xung yếu như thị trấn, Ninh Sim, Ninh Tây, các xã ven biển…; xây dựng các cụm phòng thủ chiến đấu như cụm Ninh Phước, cụm Ninh Lộc - Ninh Ích, cụm Ninh Đa - Ninh Giang, cụm Ninh Hà - Ninh Phú…; chú trọng xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ, phát triển nhanh về số lượng và thường xuyên huấn luyện nâng cao chất lượng. Tỷ lệ dân quân, tự vệ toàn huyện năm 1979 chiếm 0,6%, đến 1982 nâng lên 3,7%. Một số xã như Ninh Thọ, Ninh Quang… đạt trên 10%. Lực lượng cán bộ xã đội được bồi dưỡng chuyên môn, nhiều đồng chí được đào tạo tại Trường Quân sự tỉnh. Bên cạnh lực lượng dân quân tự vệ, Huyện còn thành lập một tiểu đoàn quân dự nhiệm gồm 500 đoàn viên thanh niên ưu tú, chia làm 4 đại đội được huấn luyện, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ khi Đảng cần, dân gọi. Về công tác tuyển quân, các đợt tuyển quân năm 1979, huyện giao quân chỉ đạt 64% chỉ tiêu trên giao. Sau khi rút kinh nghiệm, các cấp các ngành thấy rõ: Trong các biện pháp công tác tuyển quân, quan trọng nhất là phải phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy đảng, chính quyền và mặt trận, đoàn thể, nòng cốt là phụ nữ để vận động, tuyên truyền nâng cao nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đến từng gia đình, từng thanh niên. Mỗi đợt tuyển quân, huyện thành lập các đoàn công tác bao gồm các ban, ngành, đoàn thể cùng với cơ sở đi vận động, thuyết phục. Với kinh nghiệm đó, từ năm 1980 - 1982 huyện đều vượt chỉ tiêu tuyển quân; yêu cầu bổ sung giúp nước bạn Campuchia cũng hoàn thành. Công tác hậu phương quân đội được thực hiện thường xuyên, đến năm 1982 đã xét và công nhận liệt sĩ gần 2.500 trường hợp hy sinh trong thời kỳ kháng chiến và làm nghĩa vụ quốc tế; xét công nhận gia đình chính sách, người có công và thương binh cho hàng trăm trường hợp. Với tình cảm và trách nhiệm đối với liệt sĩ và gia đình cách mạng, huyện liên tục thành lập các đoàn đi tìm kiếm và quy tụ mộ liệt sĩ về nghĩa trang liệt sĩ huyện.
Thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TU, ngày 7/3/1981 của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Kế hoạch số 583-KH/HU, ngày 26/3/1981 về nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới. Kế hoạch xác định rõ 3 nhiệm vụ trọng tâm: Một là, đấu tranh chống hoạt động tình báo gián điệp, nội gián, chiến tranh tâm lý, phá hoại kinh tế, tư tưởng, văn hóa, bạo loạn chính trị của địch; chống xâm nhập và trốn đi nước ngoài. Hai là, bảo vệ, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; đấu tranh chống tội phạm hình sự. Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang vững mạnh. Toàn huyện liên tục phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; các xã, thị trấn xây dựng hàng trăm tổ an ninh nhân dân, mỗi tổ từ 10 - 15 hộ liền kề; xây dựng và bổ sung quy ước bảo vệ an ninh ở địa phương. Các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh chú trọng công tác giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ tài sản công, xây dựng nội quy, củng cố lực lượng tự vệ, đội bảo vệ… Huyện coi trọng xây dựng, củng cố lực lượng công an, quân sự, đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng chính trị lực lượng công an xã và xã đội. Thời gian đó, tình hình xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa nổi lên ở các hợp tác xã nông nghiệp[23], chủ yếu là trộm cắp tài sản, vật tư, lương thực nên các cấp ủy thường bố trí đồng chí trưởng công an xã kiêm trưởng ban kiểm soát hợp tác xã nông nghiệp. Từ năm 1979, các vụ vượt biên trốn ra nước ngoài tăng nhanh.
Thêm vào đó, tình hình vượt biên trốn ra nước ngoài rộ lên đột biến, địa điểm tổ chức vượt biển lan rộng ra trên toàn tuyến các xã ven biển và có dấu hiệu móc nối vào bên trong đội ngũ cán bộ, nhất là vào lực lượng vũ trang. Trong tình hình đó, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo các cấp ủy coi công tác đấu tranh chống vượt biên là một trong nhiệm vụ cấp bách, quan trọng. Đồng thời trực tiếp rà soát, cho ý kiến về danh sách cán bộ công an, xã đội của từng xã trên cơ sở tham mưu của các cơ quan chức năng theo tinh thần Chỉ thị số 106-CT/TW, ngày 22/4/1981 của Ban Bí thư (khóa IV) về việc ngăn chặn người trốn ra nước ngoài.
Sự kết hợp tổng hợp sức mạnh của lực lượng vũ trang chủ lực, mạng lưới công an xã và dân quân, tự vệ với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, đã tạo ra thế trận quốc phòng kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn huyện. Từ thế trận này đã ngăn chặn thành công không cho tàn quân Fulro xâm nhập vào vùng núi Ninh Tây, Ninh Tân. Đồng thời việctruy quét các ổ nhóm phản động lẩn trốn cũng như đấu tranh ngăn chặn các vụ tổ chức nhen nhóm phản cách mạng, đấu tranh trấn áp tội phạm hình sự và ngăn chặn người trốn ra nước ngoài đều đạt hiệu quả cao[24]. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, tình hình vượt biên vẫn diễn ra phức tạp và có xu hướng ngày càng tăng. Một số vụ tổ chức vượt biên có sự tham gia của một số cán bộ, chiến sĩ, trong đó có những người có trách nhiệm cao trong đấu tranh chống vượt biên.
Củng cố và xây dựng bộ máy hệ thống chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Sau khi tái lập, huyện gặp khó khăn trước mắt về thiếu đội ngũ cán bộ do phải chia tách bộ máy huyện Khánh Ninh cũ. Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo nhanh chóng bố sắp xếp, bố trí cán bộ, đảng viên hợp lý, đồng thời chú ý động viên cán bộ, đảng viên khắc phục khó khăn, bảo đảm sự hoạt động của hệ thống tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng từ huyện đến cơ sở. Trong quá trình củng cố, kiện toàn và xây dựng bộ máy, công tác chính trị tư tưởng được đặc biệt coi trọng. Toàn Đảng bộ tiến hành liên tục và sâu rộng những đợt học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Nghị quyết Đại hội II Đảng bộ tỉnh, các nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh ủy trong Đảng và quần chúng. Các nghị quyết của Đảng trong những năm đó luôn được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân trông chờ, đón nhận, nhất là những quyết định mới của Trung ương về cải tiến công tác khoán sản phẩm trong hợp tác xã nông nghiệp, cải tiến công tác phân phối, lưu thông… Mỗi đợt học tập, các cấp ủy tổ chức sinh hoạt kiểm điểm, nghiêm khắc phê phán và đấu tranh khắc phục đấu tranh các hiện tượng tiêu cực trong Đảng; kiên quyết chống lại những luận điệu phản tuyên truyền của các thế lực thù địch. Qua các đợt sinh hoạt chính trị, tuy mức độ nông sâu có khác nhau nhưng trình độ nhận thức chính trị và lòng tin đối với Đảng và Nhà nước của cán bộ, đảng viên và nhân dân được nâng cao. Gắn với các đợt sinh hoạt chính trị, công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh được tăng cường. Quán triệt Nghị quyết số 15b-NQ/TW, ngày 3/2/1979 của Bộ Chính trị về tổ chức các ngày kỷ niệm lớn trong năm 1980 và Chỉ thị số 83-CT/TW, ngày 26/11/1979 của Ban Bí thư về phát thẻ Đảng, toàn Đảng bộ tiến hành kiểm điểm sâu, gắn công tác phát thẻ Đảng với nâng cao chất lượng đảng viên và tổ chức đảng; xử lý kỷ luật nghiêm đối với những đảng viên không đủ tư cách. Việc phát thẻ Đảng được tiến hành trang trọng nhiều đợt. Đợt phát thẻ đầu tiên là đợt 3/2/1980, đến năm 1982, toàn Đảng bộ có 92,5% đảng viên được nhận thẻ Đảng. Mỗi đợt phát thẻ Đảng cũng là đợt kết nạp đảng viên mới. Khắc phục yếu kém, trì trệ trong công tác phát triển đảng nhiệm kỳ trước, Đảng bộ chú ý giáo dục, bồi dưỡng tạo nguồn bổ sung vào đội ngũ của Đảng, gắn với củng cố xây dựng bộ máy tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể. Hơn 3 năm (1979 - 1982), kết nạp được 133 đảng viên mới, trong đó trên 75% là đoàn viên thanh niên; nữ chiếm 26,3%. Phần lớn đảng viên mới đều phát huy tính tiền phong, gương mẫu, đi đầu trong mọi phong trào, mọi hoạt động. Cùng với công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức, công tác kiểm tra được tiến hành nghiêm túc. Một trong nhiệm vụ trọng tâm được Ban Thường vụ chỉ đạo quyết liệt là kiểm tra đảng viên vi phạm. Các vụ việc đều được kiểm tra xử lý kịp thời, nhất là những hành vi tham ô, móc ngoặc, mất dân chủ trong Đảng, vi phạm quyền làm chủ của dân. Qua công tác kiểm tra gắn với phát thẻ đảng viên, từ tháng 6/1979 đến 6/1982, phát hiện 329 trường hợp đảng viên và tổ chức đảng vi phạm kỷ luật Đảng. Trong đó, kiểm điểm phê bình nghiêm khắc 10 chi bộ cơ sở và 164 đảng viên; xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với một tập thể cấp ủy chi bộ; xử lý kỷ luật 126 đảng viên, trong đó khai trừ 12 đảng viên; xóa tên 20 đảng viên; có 51 cán bộ chủ chốt từ huyện đến cơ sở bị xử lý kỷ luật Đảng, chiếm 40,5% tổng số đảng viên bị xử lý kỷ luật. Năm 1982, Đảng bộ có 811 đảng viên, 69 tổ chức cơ sở đảng. Qua phân loại, có 2 chi bộ trong sạch vững mạnh, 47 chi bộ khá, 19 chi bộ yếu kém.
Nhận thức rõ vai trò chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp huyện được nâng lên theo phân cấp, thấy rõ những yếu kém, hạn chế của bộ máy chính quyền, nhất là ở cơ sở, Huyện ủy chủ trương công tác xây dựng tổ chức bộ máy tập trung hướng mạnh về cơ sở. Đồng thời chỉ đạo từng bước sắp xếp, xây dựng bộ máy và quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng, ban cấp huyện; cải tiến lề lối làm việc, quy định chế độ đi cơ sở của cán bộ lãnh đạo, chống quan liêu, tạo mọi điều kiện đáp ứng nhanh chóng các vấn đề nảy sinh ở cơ sở về sản xuất và đời sống. Để củng cố, kiện toàn và làm trong sạch bộ máy tổ chức, ngày 18/5/1979, Ban Thường vụ Huyện ủy ra Quyết nghị số 230/QN-HU thành lập Ban Chỉ đạo kiện toàn bộ máy các cấp. Trong quá trình củng cố, đã kết hợp chặt chẽ với đại hội đảng bộ và bầu cử hội đồng nhân dân các cấp thông qua công tác nhân sự do Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý. Sau cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII và Hội đồng nhân dân tỉnh (khóa II) ngày 26/4/1981, Huyện ủy lãnh đạo tổ chức tốt cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân huyện (khóa III) và hội đồng nhân dân các xã, thị trấn vào ngày 15/11/1981. Các cuộc bầu cử diễn ra an toàn, đúng luật, cử tri nô nức đi bầu cử với tỷ lệ cao, đều đạt trên 98,5%. Hội đồng nhân dân huyện khóa III có 55 đại biểu; đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã 784 đại biểu. Kỳ họp lần thứ nhất Hội đồng nhân dân huyện (khóa III) họp đã bầu Ủy ban nhân dân; bầu đồng chí Trần Việt Á làm Chủ tịch; hai đồng chí Trần Thị và Nguyễn Giáo (Phó Ty Nông nghiệp tăng cường về huyện) làm Phó Chủ tịch; đồng chí Nguyễn Văn Trung làm Ủy viên Thư ký Ủy ban nhân dân huyện. Sau bầu cử, bộ máy chính quyền huyện và xã, thị trấn được củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý, điều hành; đội ngũ cán bộ được quan tâm nâng cao về số lượng và chất lượng. Ngoài số cán bộ do tỉnh tăng cường cho huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy đề bạt 66 cán bộ trưởng, phó ngành và tương đương. Đối với những xã yếu, huyện tiếp tục thực hiện chủ trương tăng cường cán bộ huyện về giúp xã. Ở thời điểm cuối năm 1983, có 35 cán bộ cấp huyện xuống cơ sở giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt, phần lớn là bí thư cấp ủy đảng, chủ tịch ủy ban nhân dân, trưởng công an. Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, huyện cử gần 70 cán bộ chủ chốt cấp huyện và cơ sở đi đào tạo tại trường Đảng Trung ương và tỉnh. Trường Đảng huyện tích cực mở lớp bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ lý luận ở trình độ sơ cấp và cơ sở, mỗi năm cho trên 500 cán bộ, chủ yếu là ở xã; mở nhiều lớp đối tượng Đảng cho hàng trăm quần chúng ưu tú. Các ban ngành, đoàn thể huyện còn mở nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ đoàn, hội; Ban Cải tạo nông nghiệp huyện thường xuyên mở lớp bồi dưỡng cho hầu hết cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Nhờ những cố gắng trên, tình trạng thiếu và mất cân đối trong bố trí cán bộ chủ chốt các ban ngành, cũng như một số yếu kém về năng lực quản lý điều hành của bộ máy và đội ngũ cán bộ dần dần được khắc phục một bước cơ bản.
Về công tác quần chúng, Đảng bộ tăng cường lãnh đạo đối với các đoàn thể, chú trọng đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt động, tập hợp quần chúng phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới. Năm 1981 - 1982, hoạt động của các tổ chức đoàn thể hướng mạnh vào phong trào thi đua “4 nhất” do Ủy ban nhân dân huyện phát động. Thông qua đó, tập hợp đông đảo quần chúng sinh hoạt trong các tổ chức đoàn, hội. Phong trào thi đua “4 nhất” diễn ra từ năm 1981 đến 1986 đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp về tinh thần lao động, học tập và công tác của hội viên, đoàn viên các đoàn thể quần chúng. Mặt trận Tổ quốc phát huy mạnh mẽ khối đại đoàn kết toàn dân, động viên các tầng lớp nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thể hiện rõ nét trong việc tham gia xây dựng chính quyền thông qua các cuộc bầu cử hội đồng nhân dân, trong phong trào giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Công đoàn thi đua phấn đấu hoàn thành kế hoạch nhà nước, đề cao và phát huy tính tổ chức, kỷ luật, khuyến khích tinh thần chủ động, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong công nhân viên nhằm đạt năng suất và hiệu quả công tác cao; đấu tranh mạnh mẽ chống các hiện tượng tiêu cực, nhất là nạn ăn cắp, làm dối, làm ẩu, thiếu trách nhiệm, không đảm bảo kỷ luật lao động, gây lãng phí thời gian, công sức, vật tư, tiền vốn của Nhà nước và tập thể. Thực hiện Chỉ thị số 78-CT/TW, ngày 27/9/1979 của Ban Bí thư Trung ương về tổ chức Hội Liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Huyện ủy chỉ đạo nhanh chóng thành lập Hội Nông dân tập thể từ huyện đến cơ sở. Trong thời gian ngắn, Hội đã kết nạp hàng chục nghìn hội viên là xã viên hợp tác xã nông nghiệp. Đặc biệt, phát động phong trào thi đua thực hiện “khoán 100’’ có hiệu quả, giải quyết đúng đắn, hợp lý 3 lợi ích xã viên, tập thể và Nhà nước; áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi; xây dựng nông thôn mới. Hội liên hiệp phụ nữ huyện vận dụng linh hoạt những hình thức hoạt động phong phú, vận động hội viên đẩy mạnh phong trào lao động sản xuất, nổi bật nhất là trong công tác tuyển quân. Hội phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ban ngành, giáo dục hội viên nâng cao ý thức làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng người phụ nữ mới. Các cấp hội thường xuyên quan tâm đến phúc lợi của phụ nữ, hướng dẫn chị em xây dựng hạnh phúc gia đình, xoá bỏ tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia công tác xã hội. Trong các hợp tác xã nông nghiệp, hội viên tích cực học tập, cải tiến quy trình sản xuất, đưa các loại giống lúa có năng suất cao vào đồng ruộng, góp phần vào thắng lợi trong sản xuất nông nghiệp. Trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, chị em tích cực thực hiện cải tiến lối làm việc, vận động hội viên đảm bảo ngày công và hiệu suất lao động. Ngoài ra, các cấp hội đã có nhiều cố gắng vận động nhân dân và hội viên tương trợ giúp đỡ lẫn nhau khắc phục khó khăn về đời sống. Với phong trào “ba xung kích làm chủ tập thể’’[25], Đoàn Thanh niên đảm nhận nhiều công trình thanh niên cộng sản; tổ chức nhiều hoạt động rất sôi nổi, nhất là trên lĩnh vực sản xuất, văn hóa văn nghệ, an ninh quốc phòng. Trong nông nghiệp, thanh niên đi đầu phong trào làm thủy lợi, khai hoang, làm phân hữu cơ... Hàng vạn thanh niên nông thôn đăng ký nhận ruộng vượt khoán, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Hưởng ứng phong trào "Tuổi trẻ xung kích trên mặt trận an ninh, quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc", Huyện đoàn triển khai sâu rộng đến các cơ sở những hoạt động vì điểm tựa tiền tiêu, công tác hậu phương quân đội, tổ chức nhiều đợt tập huấn nghiệp vụ cho các đồng chí đội trưởng các đội thanh niên xung kích, an ninh... Năm 1982, toàn huyện có gần 3.000 đoàn viên, 26 tổ chức đoàn cơ sở.
Nhìn chung, công tác củng cố và xây dựng bộ máy hệ thống chuyên chính vô sản được triển khai sâu rộng, tích cực, thường xuyên. Đảng bộ coi nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là củng cố, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng và toàn hệ thống. Bộ máy ấy đã tổ chức thực hiện nhiều công tác lớn nhằm phát triển sản xuất, văn hóa - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng và củng cố phong trào hợp tác hóa trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội..., góp phần quan trọng vào những thắng lợi của Đảng bộ và nhân dân toàn huyện trong hơn 3 năm qua. Tuy nhiên, bộ máy Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế - xã hội cấp bách, nhất là về lãnh đạo và quản lý kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện. Các cơ quan chuyên môn trong bộ máy chưa được xác định rõ chức năng, nhiệm vụ nên bộ máy cồng kềnh và kém hiệu lực. Công tác cán bộ còn thiếu quy hoạch, chưa chú ý đầy đủ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ trẻ, cán bộ kế cận. Bố trí cán bộ còn nhiều trường hợp chưa thật hợp lý. Công tác tư tưởng chưa gắn với thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội. Một bộ phận cán bộ, đảng viên cho rằng sau giải phóng sẽ có cuộc sống ấm no hạnh phúc ngay, không thấy hết khó khăn gay gắt của cuộc đấu tranh mới. Mặt khác, vì quá bức xúc về đời sống nên đã nảy sinh tư tưởng phân vân, hoài nghi, thiếu tin vào khả năng khắc phục khó khăn, tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng. Từ đó, giảm sút ý chí và nhiệt tình cách mạng. Một số sa sút phẩm chất, thiếu kỷ luật, thiếu trách nhiệm, tham ô, cửa quyền, mất dân chủ, mất cảnh giác trước âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Đó cũng là những vấn đề cần sớm khắc phục trong thời gian tới.
[1] Tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 6, vòng 2 (tháng 12/1991) xác định: Kể từ ngày thành lập đến năm 1991, Đảng bộ đã tổ chức 13 lần đại hội; Đại hội nhất trí đổi tên gọi Đại hội lần tứ 6 là Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 13. Như vậy, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 2, nhiệm kỳ 1979 - 1982 là Đại hội lần thứ 9.
[2] 24 đơn vị hành chính cấp xã, gồm thị trấn Ninh Hòa và các xã: Ninh Ích, Ninh Lộc, Ninh Tân, Ninh Hưng, Ninh Quang, Ninh Bình, Ninh Hà, Ninh Giang, Ninh Phú, Ninh Đa, Ninh Tây, Ninh Sim, Ninh Xuân, Ninh Thượng, Ninh Trung (thành lập ngày 2/3/1979), Ninh Thân, Ninh Phụng, Ninh Đông, Ninh Thọ, Ninh An, Ninh Diêm, Ninh Hải, Ninh Phước.
[3] Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Ninh Hòa lần thứ 2 (tức lần thứ 9), tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Thị ủy Ninh Hòa.
[4] Tài liệu đã dẫn, lưu trữ tại Văn phòng Thị ủy Ninh Hòa.
[5] Đồng chí Hoàng Tám là Phó Ty Nông nghiệp, được tỉnh tăng cường về huyện.
[6] Nay là khu trung tâm sinh hoạt văn hóa thị xã.
[7] Phong trào “4 nhất” là: Lao động sản xuất tốt nhất, tiết kiệm tốt nhất, hoàn thành mức nghĩa vụ tốt nhất, tổ chức đời sống tốt nhất.
[8] Trong 300 tấn gạo, huyện phải mượn của tỉnh 200 tấn để cứu đói cho trên 2.500 hộ, 12.000 nhân khẩu.
[9] Chỉ riêng 3 năm (1981 - 1983), huyện đã huy động gần 350.000 ngày công nghĩa vụ lao động, đào đắp gần 160.000m3 đất đá xây dựng kênh mương.
[10] Công, điểm: Công là ngày công, còn điểm là 1/10 ngày công. Ngày công được tính cho mỗi lao động khi thực hiện một công việc theo định mức hợp tác xã đề ra.
[11] 6 công trình, gồm: Trạm bơm điện 1.000m3/giờ; lò gạch 3,5 triệu viên/năm; trại chăn nuôi heo; nhà trẻ; lớp mẫu giáo; trường học tại cơ sở 2 Ninh Thượng.
[12] Báo cáo tại Hội nghị Tổng kết công tác cải tạo nông nghiệp huyện, ngày 27 - 28/4/1983, tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Thị ủy Ninh Hòa.
[13] 3 năm (1979 - 1982) khai thác trên 7.000m3 gỗ, 40.000 ster củi, trên 500 tấn lá buông.
[14] 17 đơn vị tập thể tiểu thủ công nghiệp, gồm 2 xí nghiệp hợp tác, 9 hợp tác xã và 6 tổ hợp tác.
[15] Tổng giá trị sản phẩm ngành tiểu thủ công nghiệp huyện năm 1979 đạt trên 8.330.000đ, trong đó xuất khẩu trên 850.000đ.
[16] Giá trị sản lượng ngành tiểu, thủ công nghiệp huyện năm 1982 đạt 27,5 triệu đồng; xuất khẩu đạt 5,8 triệu đồng.
[17] 3 năm 1980 - 1982, làm mới 8km đường, nâng cấp gần 100km, xây dựng 88 cầu gỗ, 74 cầu bằng ghi sắt, 6 cầu bê tông, 178 cống các loại.
[18] Năm 1982 thu ngân sách trên địa bàn 37 triệu đồng, ngân sách huyện 16 triệu đồng.
[19] Đó là đồng chí Lê Đức Lập, cán bộ Phòng Lương thực huyện.
[20] Đó là giáo viên Nguyễn Thị Cúc.
[21] Năm 1982, Bệnh viện huyện có thêm 20 y sĩ, 54 y tá, dược tá.
[22] 5 dứt điểm là: Dứt điểm 3 công trình vệ sinh (nhà tắm, giếng nước, cầu tiêu); dứt điểm về sinh đẻ có kế hoạch; dứt điểm trồng và sử dụng thuốc nam tại xã; dứt điểm về kiện toàn tổ chức y tế; và dứt điểm về quản lý sức khỏe toàn dân.
[23] 3 năm (1980 - 1982) xảy ra 278 vụ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, trong đó 119 vụ ở hợp tác xã nông nghiệp, chiếm gần 43% tổng số vụ xâm phạm.
[24] 3 năm (1980 - 1982) ngăn chặn và phá 8 vụ nhen nhóm tổ chức phản động; ngăn chặn 119/145 vụ vượt biên với trên 1.640 người, trong đó có 427 công chức, viên chức; phá án 407/601 vụ hình sự.
[25] 3 xung kích là: Lao động sản xuất; sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc; học tập, rèn luyện và xây dựng cuộc sống mới.