Khôi phục các hoạt động kinh tế - xã hội, tập trung sản xuất lương thực, ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, hòa trong niềm vui chung của cả dân tộc, Đảng bộ và nhân dân Ninh Hòa phấn khởi, tự hào cùng với cả tỉnh, cả nước bước vào thời kỳ cách mạng mới - thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Là một huyện ven biển thuộc tỉnh Khánh Hòa[1], Ninh Hòa có nhiều tài nguyên thiên nhiên về đất đai, rừng, biển, nhân dân có truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng vẻ vang, lao động cần cù, sáng tạo. Đảng bộ huyện và đội ngũ cán bộ, đảng viên được tôi luyện, thử thách, tích lũy nhiều kinh nghiệm lãnh đạo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó là thuận lợi cơ bản trong quá trình xây dựng quê hương. Song, Đảng bộ và nhân dân cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại. Trên một vạn binh sĩ và nhân viên của bộ máy chính quyền cũ tan rã tại chỗ, kéo theo gia đình của họ vốn có cuộc sống chủ yếu dựa vào tiền lương chế độ cũ, cộng với số dân trở về làng cũ... làm gia tăng đột biến với một số lượng lớn lao động không có việc làm, gây ra nhiều khó khăn và áp lực xã hội. Trong đó, khó khăn lớn nhất, cấp bách nhất chính là giải quyết đáp ứng về nhu cầu lương thực, thực phẩm cho dân. Ngoài thiếu lương thực, thực phẩm nghiêm trọng, các loại nhu yếu phẩm thiết yếu khác phục vụ đời sống và nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư, thiết bị kỹ thuật... phục vụ sản xuất cũng đều khan hiếm, thị trường lại bị đảo lộn, giá cả tăng cao[2], đời sống cán bộ, nhân dân gặp nhiều thiếu thốn, chật vật. Trong số những người làm việc và binh lính của chế độ Việt Nam Cộng hòa có một số ngoan cố, không chịu cải tạo cùng với một số khác do địch cài lại cấu kết với nhau âm mưu thực hiện “kế hoạch hậu chiến” của Mỹ. Số cầm đầu các đảng phái chính trị phản động vẫn nuôi hy vọng, chờ cơ hội phản kích phục thù. Bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm, chúng ngấm ngầm hoạt động, liên tục gây rối, chống phá cách mạng. Tình hình đó lại càng nguy hiểm hơn khi nhiều vũ khí súng, đạn, vật liệu nổ còn nằm rải rác nhiều nơi trên địa bàn huyện; tội phạm hình sự lợi dụng lúc giao thời gia tăng hoạt động gây thêm phức tạp xã hội. Tất cả khó khăn trên tạo ra nhiều bức xúc trong đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến tư tưởng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mặc dù phấn khởi khi đất nước, quê hương được giải phóng nhưng dưới chế độ mới có nhiều điều quá mới mẻ, chưa đồng thuận nên một bộ phận nhân dân lo sợ, chưa thật sự tin tưởng chính quyền cách mạng... Trong khi đó, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân toàn huyện hết sức nặng nề, mới mẻ và bề bộn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng... Nhiệm vụ càng gặp khó khăn hơn khi bước chuyển rất đột ngột từ lãnh đạo nhân dân trong cách mạng giải phóng dân tộc sang lãnh đạo xây dựng xã hội chủ nghĩa nên chưa được chuẩn bị trước. Đội ngũ cán bộ đa số là những chiến sĩ suốt những năm dài vốn quen làm nhiệm vụ cầm súng đánh giặc, xông pha nơi trận mạc, nay chiến thắng trở về nhận nhiệm vụ xây dựng xã hội mới, cuộc sống mới, so với yêu cầu nhiệm vụ thì vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về trình độ nhận thức, năng lực quản lý kinh tế, xã hội, văn hóa…
Đối với một huyện kinh tế thuần nông, lạc hậu, đất đai bỏ hoang hóa hàng ngàn héc ta; hoàn toàn không có một quỹ dự trữ nào về tiền bạc, lương thực… cũng chưa có sự chi viện nào của cấp trên thì những khó khăn không lường hết được nêu trên là một thử thách gay go, đầy gian khổ. Nhưng với bản lĩnh chính trị vững vàng, được tôi luyện trong chiến tranh giải phóng dân tộc ác liệt, Đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân toàn huyện vượt qua mọi thử thách, ra sức khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa xã hội, ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Nắm chắc tình hình, từ ngày 25 đến 27/5/1975, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa VIII) họp mở rộng. Sau khi kiểm điểm, đánh giá kết quả công việc và phân tích rõ tình hình trong những ngày đầu sau ngày giải phóng, Hội nghị xác định, trong 6 tháng cuối năm, Đảng bộ tập trung lãnh đạo thực hiện 4 nhiệm vụ lớn: Một là, đẩy mạnh sản xuất, trọng tâm là sản xuất lương thực, thực phẩm để giải quyết “cái ăn” cho dân. Hai là, tiếp tục trấn áp những phần tử phản cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Ba là, đẩy mạnh công tác văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế. Bốn là, xây dựng, củng cố bộ máy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể các cấp. Hội nghị nhận định: “Lực lượng ta đang được củng cố và phát triển, phong trào quần chúng đang lên mạnh, tạo ra một khí thế mới về tinh thần để ta phát động biến thành một sức mạnh hiện thực xây dựng nhanh các mặt ở địa phương”[3]. Tin tưởng vào phẩm chất cách mạng và bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ, Hội nghị động viên, kêu gọi mỗi đồng chí tiếp tục hy sinh, chịu đựng mọi gian khổ, gương mẫu đi đầu, làm nòng cốt lãnh đạo trong các phong trào quần chúng. Đây được coi là một trong những biện pháp cực kỳ quan trọng lúc này để vượt qua mọi khó khăn.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Huyện ủy mở rộng, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo liên tục phát động các phong trào cách mạng của quần chúng, tập trung phục hóa, khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất lương thực. Trong thời gian gần 5 tháng, toàn huyện huy động cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân phục hóa hàng trăm héc ta lúa, khai hoang hàng trăm héc ta đất trồng cây màu lương thực, chủ yếu là mỳ, bắp. Các xã Ninh Phước, Ninh Phú, Ninh Lộc… là những xã tích cực, mỗi xã phát rẫy trỉa được trên 30ha bắp. Thực hiện chủ trương đưa những người chưa có công ăn việc làm ở thành thị đi lập vùng kinh tế mới, đến tháng 10/1975, huyện đã đưa 97 hộ gia đình đầu tiên đến Cung Hòa, Quảng Thiện (Ninh An), Phú Nhơn (nay ở xã Ninh Tân), trong đó có 25 gia đình tiếp nhận từ Nha Trang. Ngoài ra, nhiều người thiếu công ăn việc làm tự đi đến các vùng ven núi ở xã Ninh Sim, Ninh Thượng, Ninh Quang, Ninh Hưng… để khai hoang, tăng gia sản xuất. Bên cạnh việc mở rộng diện tích, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo đẩy mạnh công tác thủy lợi, coi đó là biện pháp hàng đầu để khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp. Huyện huy động lực lượng hàng ngàn người lên các công trình thủy lợi, đào đắp hệ thống mương, nhanh chóng xây dựng hoàn thành các hạng mục công trình dở dang của đập Sông Cái (xã Ninh Xuân), kịp thời đưa nước về tưới cho lúa vụ hè - thu của 7 xã; tu sửa đập Hòa Huỳnh tưới cho diện tích lúa ở 2 xã Ninh An và Ninh Thọ…; xây dựng hệ thống mương tiêu chống úng cho 500 ha vùng Ninh Giang, Ninh Hà; tu bổ lại các đập bổi[4] ở các xã; xây dựng mới một số đập như đập Suối Tre, Phú Lộc (xã Ninh Diêm)… Bằng sức lao động thủ công là chính mà nòng cốt là cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, trong đó có nhiều người lần đầu tiên lao động chân tay, chịu đói, chịu khát, với công cụ thô sơ như cuốc, xẻng, xà beng, quang gánh… trong thời gian ngắn đã làm cho hàng ngàn héc ta ruộng đất hoang hóa trong chiến tranh thành ruộng lúa được tưới nước tốt tươi. Cùng với sản xuất nông nghiệp, hầu hết các cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp như gạch ngói, xay xát gạo, nghề rèn, mộc, xưởng cưa, đánh bắt và chế biến hải sản, sản xuất muối… được khôi phục, hoạt động trở lại. Bên cạnh các nghề hiện có, một số nghề đã bị mai một từ lâu trước ngày giải phóng, nay lại được huyện khuyến khích phục hồi lại như nghề đan lát các sản phẩm từ nguyên liệu mây, tre lá sẵn có trong huyện. Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất đi vào hoạt động đều gặp khó khăn do thiếu nguyên, nhiên liệu, vật tư nên công suất sử dụng đạt tỷ lệ không cao, có nghề như đánh bắt hải sản chỉ đạt khoảng 30 - 40% công suất tàu thuyền hiện có.
Cùng với khôi phục, phát triển sản xuất, toàn huyện huy động hàng vạn ngày công của các tầng lớp nhân dân để tu sửa, khôi phục hệ thống đường sá, cầu cống trong huyện. Việc liên lạc giữa huyện với các cấp, các ngành, các cơ quan chủ yếu thông qua công văn, giấy tờ, thư công tác… do cán bộ, nhân viên làm công tác văn thư và ngành bưu điện đảm nhận. Hệ thống điện thoại cũng được thiết lập đường dây giữa cơ quan lãnh đạo của huyện với tỉnh và các cơ quan chức năng.
Đối với công tác tài chính, ngân hàng, sau ngày giải phóng, huyện vẫn tạm thời thực hiện thu nhiều khoản thuế do chế độ cũ đặt ra. Riêng thuế thổ trạch, được huy động bằng hiện vật dưới hình thức lúa đảm phụ. Về sau, thực hiện các chính sách thuế mới do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành, nhiều khoản thuế mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước đây đặt ra được bãi bỏ, thay vào đólà chính sách thuế mới, khuyến khích phát triển sản xuất và đóng góp một phần nghĩa vụ đối với Nhà nước. Tính đến ngày 10/9/1975 ngành tài chính thu thuế được trên 24 triệu đồng, chủ yếu thuế thương nghiệp và tiền đảm phụ; thuế nông nghiệp được gần 470 tấn lúa. Lưu thông tiền tệ trong thời gian đầu sau giải phóng vẫn sử dụng đồng tiền cũ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đến ngày 22/9/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định đổi tiền, thay thế đồng tiền cũ bằng đồng tiền mới của Ngân hàng Việt Nam (còn gọi là tiền giải phóng hay tiền miền Nam). Tỷ lệ quy đổi 1 đồng tiền mới ăn 500 đồng tiền cũ. Tại Ninh Hòa, từ ngày 22 đến 25/9/1975, việc thu đổi tiền cũ sang tiền mới diễn ra nhanh gọn, an toàn ở 54 bàn đổi tiền[5]. Ngay sau một ngày đổi tiền, ngày 23/9/1975, Ban Vật giá Chính phủ công bố và niêm yết giá 19 mặt hàng thiết yếu trên toàn miền Nam, góp phần ổn định giá cả, đáp ứng yêu cầu mua bán của nhân dân. Tuy nhiên, lúc đó ở miền Nam vẫn tồn tại song song hai loại tiền miền Bắc và tiền miền Nam nên đã phát sinh tệ đầu cơ đồng tiền tệ với tỷ lệ quy đổi khác nhau. Ngày 8/11/1975, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 353/TTg về việc chuyển đổi giữa hai đồng tiền miền Nam và miền Bắc. Tỷ lệ quy đổi là 1 đồng miền Bắc bằng 0,8 đồng miền Nam. Nhờ đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ lúc bấy giờ.
Song song với nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, nhiệm vụ khôi phục các hoạt động giáo dục, y tế, đưa ánh sáng văn hóa cách mạng đến với nhân dân được Đảng bộ và chính quyền cách mạng đặc biệt quan tâm. Khi tiếp quản, cơ sở y tế do chế độ cũ để lại có một Nhà thương công (tại khu vực cơ quan Hội Đông y huyện ngày nay) và Chi Y tế quận Ninh Hòa là cơ sở y tế dã chiến của Mỹ - ngụy (ở gần Trường Tiểu học Ninh Hòa 3 hiện nay). Lúc này, số cán bộ y tế của huyện có 44 người[6] từ 4 nguồn tập trung lại, gồm: Bệnh xá Bắc Khánh, Trạm xá Vùng Đông (Hòn Hèo), Trạm xá 301 (Nam Ninh Hòa) và cơ sở y tế của chính quyền cũ. Với lực lượng cán bộ, nhân viên đó, huyện đã nhanh chóng hình thành hệ thống y tế từ huyện đến xã, gồm có Bệnh viện huyện và một số trạm y tế xã. Bệnh viện huyện được tu sửa lại từ Nhà thương của chế độ cũ trước đây vốn chỉ có cái nhà, là nơi phát thuốc cho người nghèo. Bệnh viện huyện lúc mới thành lập có 30 giường bệnh, và một tổ vệ sinh phòng dịch - phòng chống sốt rét. Mạng lưới trạm y tế xã nhanh chóng được hình thành. Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo thành lập đội y tế lưu động xuống giúp các xã tổ chức, xây dựng thành lập trạm xá. Đồng thời, tích cực chọn người đi đào tạo cấp tốc các lớp y tá, nữ hộ sinh và dược tá do tỉnh tổ chức. Công tác phòng chống dịch, bệnh lây lan sau chiến tranh được huyện chú trọng. Toàn huyện mở các chiến dịch tiêm phòng, chủ yếu là dịch tả, dịch hạch, đậu mùa; tăng cường giáo dục, tuyên truyền, cung cấp kiến thức cho người dân tự giác tham gia phòng chống dịch, bệnh. Sôi nổi là phong trào vệ sinh phòng bệnh, thu hút đông đảo nhân dân, học sinh tham gia dọn vệ sinh và tích cực thực hiện 3 công trình vệ sinh trong mỗi gia đình gồm nhà tắm, nhà tiêu và hố xử lý rác thải. Những cố gắng trong công tác y tế đã hạn chế tối đa và không để dịch bệnh xảy ra sau chiến tranh.
Về giáo dục, chỉ 3 ngày sau giải phóng 2/4, ngày 5/4/1975, huyện đã thành lập Phòng Giáo dục. Ngày 6/4/1975, chính quyền cách mạng có cuộc gặp mặt đầu tiên đối với giáo viên trong chế độ Việt Nam Cộng hòa toàn huyện. Đồng chí Nguyễn Văn Chấp, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản huyện đã nói chuyện và động viên giáo viên trở lại trường học giảng dạy bình thường. Thực hiện Thông tư số 409 của Khu trung Trung Bộ và chỉ đạo của tỉnh, huyện nhanh chóng tiếp quản và công lập hóa các trường phổ thông tư thục thành các trường phổ thông cấp I, cấp II. Chuẩn bị cho năm học mới, toàn huyện khẩn trương xây dựng thêm trường lớp; gửi đi đào tạo cấp tốc giáo viên cấp I do tỉnh tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu tăng nhanh số lượng học sinh. Ngày 15/10/1975, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Khánh có quyết định thành lập Trường Phổ thông cấp III Nguyễn Trãi. Địa điểm trường học đặt tại khu vực Trường mầm non 1/5 Ninh Hòa ngày nay. Trước khi bước vào năm mới, tất cả giáo viên đều được học tập bồi dưỡng về chính trị và tập huấn nghiệp vụ theo chương trình mới. Đầu tháng 8/1975, huyện tổ chức đợt học chính trị hè năm 1975 cho giáo viên cấp I, trong thời gian 1 tháng. Đối với giáo viên cấp II, cấp III thì do tỉnh tổ chức. Giáo viên được trang bị nhận thức về nền giáo dục mới xã hội chủ nghĩa, về nội dung, phương pháp giảng dạy theo chương trình mới. Thực hiện Chỉ thị số 221-CT/TW, ngày 17/6/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác giáo dục ở miền Nam sau ngày giải phóng, ngày 19/10/1975, 36 trường với trên 24.400 học sinh trong toàn huyện đã làm lễ trọng thể khai giảng năm học 1975 - 1976, năm học đầu tiên dưới chế độ mới[7]. Hệ thống giáo dục phổ thông vẫn giữ 12 năm, nhưng chương trình học và sách giáo khoa được thay thế theo chương trình giáo dục của chính quyền cách mạng. Bên cạnh các trường học phổ thông, huyện thành lập Trường Bổ túc văn hóa công nông, địa điểm trường tại Dục Mỹ, xã Ninh Sim. Đây là trường học bổ túc hình thành sớm nhất trong tỉnh. Năm học đầu tiên khai giảng vào ngày 7/10/1975 gồm có 3 lớp, từ lớp 1 đến lớp 3 với trên 120 học viên. Học viên là cán bộ, nhân viên trên chiến khu trước đây, con em liệt sĩ, thương binh, gia đình cách mạng…Vào học lớp 1 được xét tuyển, còn vào học lớp 2 và lớp 3 thì phải qua thi tuyển.
Với những nỗ lực cố gắng của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân toàn huyện, trong thời gian 6 tháng, từ chỉ có một vài trường học tư thục trong chế độ cũ, huyện đã xây dựng một hệ thống giáo dục công lập bao gồm 36 trường phổ thông hoàn chỉnh 3 cấp và 1 trường bổ túc văn hóa. Con em nhân dân lao động không kể giàu nghèo, giai cấp, thành phần… ai cũng phấn khởi được học hành. Số người đi học chiếm trên 20% dân số. Kết quả này góp phần xây dựng và củng cố lòng tin của nhân dân đối với chế độ mới.
Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác văn hóa, tư tưởng, nhất là những ngày đầu sau giải phóng, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo nhanh chóng đưa ánh sáng của nền văn hóa mới đến với nhân dân, đẩy lùi văn hóa nô dịch của chế độ cũ. Trong điều kiện thiếu thốn lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu, công việc làm ăn thiếu ổn định, giá cả tăng cao…, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhất là những người trở về làng cũ, gia đình chính sách… càng khó khăn hơn. Trong tình hình đó, Huyện ủy chỉ đạo phát huy nét đẹp truyền thống “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, phát động phong trào toàn dân đoàn kết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau tăng gia sản xuất, ổn định đời sống bằng nhiều hình thức, như hỗ trợ lương thực, cho mượn lúa gạo ăn, giúp lúa, bắp giống, cho vay tiền… Nhờ đó, nhiều người, nhiều hộ gia đình đã vượt qua thời điểm khó khăn nhất, trụ vững và từng bước vươn lên. Mặc dù tài chính huyện còn rất eo hẹp, nhưng huyện đã xuất trên 100.000 đồng và gần 20 tấn gạo để cứu tế, hỗ trợ hoặc cho mượn đối với các gia đình quá khó khăn. Sự hỗ trợ đó tuy nhỏ so với nhu cầu nhưng có ý nghĩa lớn, động viên nhân dân vượt qua khó khăn, tích cực sản xuất và thể hiện sự quan tâm chăm lo đời sống nhân dân của chính quyền cách mạng. Mặc dù đời sống vật chất còn nghèo nhưng các hoạt động văn hóa, văn nghệ cách mạng, thể dục thể thao… liên tục diễn ra rất phong phú và sôi nổi, phát triển rộng khắp từ huyện đến cơ sở, thu hút đông đảo quần chúng, nhất là thanh, thiếu niên tham gia. Các đội văn nghệ được xây dựng, phát triển rất nhanh đến thôn, có thời gian toàn huyện có trên 70 đội. Đến cuối tháng 10/1975, để nâng cao chất lượng hoạt động văn nghệ, huyện chỉ đạo tập trung xây dựng còn 18 đội văn nghệ xã, trong đó nhiều đội văn nghệ có chất lượng cao như xã Ninh Hiệp, Ninh Diêm, Ninh Đa... Huyện tổ chức biên tập và phát hành về cơ sở hàng ngàn tập bài hát, bản nhạc cách mạng, thơ ca cách mạng…; tổ chức nhiều cuộc triển lãm tranh ảnh và phát hành hàng ngàn bản tiểu sử tóm tắt về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch. Cùng với các hoạt động văn hóa, văn nghệ cách mạng, huyện phát động phong trào thu gom các loại ấn phẩm phản động, đồi trụy do chế độ cũ để lại, thu và xử lý trên 30.000 cuốn sách cũ, hàng ngàn đĩa hát, bản nhạc… có nội dung không phù hợp lúc bấy giờ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, nhiều sách, báo cũ có giá trị cũng bị tiêu hủy, làm mất đi ít nhiều nguồn tư liệu quý hiếm.
Sau khi tiếp quản một số phương tiện của Chi Thông tin chiêu hồi ngụy, với tinh thần tự lực, tự cường của cán bộ văn hóa văn nghệ, huyện thành lập Đài Truyền thanh Ninh Hòa và Đội Chiếu bóng lưu động. Buổi đầu tiên Đội Chiếu bóng phục vụ nhân dân là vào ngày 16/4/1975 tại xã Ninh Diêm. Cũng vào ngày 16/4/1975, với 3 km đường dây chắp nối và 8 cái loa, Đài Truyền thanh huyện phát bản tin đầu tiên - bản tin chiến thắng 10 phút, sau đó tiếp âm Đài Phát thanh giải phóng miền Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam. Từ đó, mỗi ngày phát 3 buổi, mỗi buổi từ 1 - 4 giờ. Có 5 xã đầu tiên trong huyện thành lập được trạm truyền thanh là Ninh Sim, Ninh Xuân, Ninh Phụng, Ninh Bình và Ninh Diêm. Đối với các xã khác, do điều kiện khó khăn, nhất là cán bộ tuyên truyền và phương tiện truyền thanh máy móc rất thiếu thốn nên Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo mỗi xã xây dựng một số “chòi phát thanh”. Từ trên chòi, dùng loa tay “phát thanh” mỗi ngày, thời gian phát tùy vào yêu cầu nhiệm vụ của địa phương, do chỉ đạo của lãnh đạo xã. Tại thời điểm tháng 10/1975, toàn huyện có gần 120 “chòi phát thanh”. Đây là cách làm truyền thanh sáng tạo, hiếm có của Ninh Hòa. Tuy là phương tiện truyền thanh thủ công, đơn sơ nhưng khá độc đáo, phù hợp với điều kiện cụ thể lúc đó. Các “chòi phát thanh” cùng với “hệ thống” loa tay và các trạm truyền thanh xã, Đài Truyền thanh huyện tạo nên một hệ thống truyền thanh rộng khắp, đến mọi địa bàn dân cư, tạm thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt là hàng ngày đưa tiếng nói của Đảng, chính quyền cách mạng đến với dân. Tăng cường thông tin tuyên truyền, huyện còn xuất bản và phát hành Bản tin Ninh Hòa đưa xuống tận các xã, thôn; xây dựng các bảng tin cố định ở hầu hết tất cả các thôn để thông báo kịp thời tình hình, nhiệm vụ của địa phương.
Trong thời gian đầu sau giải phóng, có một số sự kiện nổi bật trong đời sống tinh thần của nhân dân. Đó là các cuộc họp sinh hoạt chính trị của dân, các cuộc mít tinh được tổ chức khá rầm rộ, sôi nổi ở huyện và xã, thể hiện khí thế cách mạng hào hùng của nhân dân. Nhiều cuộc mít tinh do huyện tổ chức tại sân vận động (nay là Nhà Văn hóa huyện), mỗi cuộc thu hút trên 3 vạn người tham dự. Cuộc mít tinh đầu tiên ở huyện vào ngày 25/4/1975, chào mừng chiến thắng giải phóng quê hương 2/4 và ra mắt chính quyền cách mạng huyện. Ở các xã, cuộc mít tinh sớm nhất là xã Ninh Quang, chào mừng ngày giải phóng và ra mắt chính quyền xã vào ngày 3/4/1975.
Chủ trương nhanh chóng đưa ánh sáng văn hóa mới đến với nhân dân được Đảng bộ lãnh đạo sát sao. Nhờ đó, những hoạt động văn hóa, văn nghệ cách mạng lan nhanh, lan rộng trong toàn huyện, đến với mọi tầng lớp nhân dân, từng bước đẩy lùi tàn dư văn hóa không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Tinh thần đoàn kết, sự gắn bó cộng đồng trong nhân dân được vun đắp, góp phần mang lại sức sống mới lành mạnh trong đời sống tinh thần, làm cho khí thế cách mạng trong toàn huyện dâng cao, tạo nên động lực tinh thần mới trong sự nghiệp kiến thiết quê hương.
Đi đôi với nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ thường xuyên quan tâm công tác an ninh - quốc phòng, ra sức xây dựng lực lượng, bảo đảm đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Lực lượng vũ trang của huyện lúc giải phóng rất mỏng. Tháng 6/1975, Huyện đội và An ninh huyện được tỉnh bổ sung hàng chục chiến sĩ; tuyển trên 40 thanh niên tình nguyện tham gia vào bộ đội huyện, trong đó có 20 nữ. Đối với cán bộ cơ sở, huyện phối hợp với Tỉnh đội mở gấp các lớp huấn luyện cho cán bộ xã đội, trung đội, tiểu đội du kích của các xã. Trên cơ sở đó, huyện đã hình thành mạng lưới an ninh và lực lượng vũ trang từ huyện đến tất cả các xã; 20 xã trong toàn huyện đều có trung đội du kích. Đầu tháng 5/1975, An ninh tỉnh triển khai xây dựng Đồn An ninh vũ trang 135 đóng tại thôn Ninh Yểng, xã Ninh Phước góp phần tăng thêm sức mạnh quốc phòng - an ninh. Các lực lượng phối hợp chặt chẽ với nhau, thường xuyên tuần tra, kiểm soát, siết chặt các biện pháp quản lý an ninh. Các đầu mối tuyến giao thông trọng yếu như ngã ba đường sứ (Ninh An đi Đá Bàn), ngã 3 thị trấn, Quốc lộ 21 (nay là quốc lộ 26), nhà ga, bến xe… đều bố trí lực lượng chốt chặn để kiểm soát, phát hiện, truy bắt ác ôn lẩn trốn và trấn áp tội phạm hình sự, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân. Lúc này, một nhiệm vụ quan trọng được Ban Thường vụ quan tâm chỉ đạo là phát động toàn dân tham gia thu gom vũ khí, quân trang, quân dụng của địch còn sót lại. Đến cuối tháng 9/1975, toàn huyện đã thu được trên 5.600 khẩu súng, hàng tấn đạn các loại và nhiều vật liệu nổ khác. Tuy nhiên, vẫn còn một số nằm rải rác trong dân, ở nhiều địa điểm nên công việc phát hiện, thu gom vũ khí, phương tiện chiến tranh vẫn được tiếp tục thực hiện ở nhiều năm sau này.
Trước khí thế sôi nổi và cảnh giác cách mạng cao của nhân dân, những tháng đầu sau ngày giải phóng, số ngụy quân, ngụy quyền ngoan cố, không chịu cải tạo phần lớn co lại, một số thay đổi họ, tên chạy trốn vào rừng núi hoặc đi nơi khác. Tình hình an ninh chỉ xảy ra một số vụ, như ném lựu đạn vào trụ sở Ninh Hà, ném đất đá vào trụ sở xã và xé khẩu hiệu ở Ninh Bình… Từ tháng 8/1975, số phần tử ngoan cố ẩn núp trong dân cư bắt đầu móc nối, nhen nhóm lực lượng, xây dựng tổ chức, âm mưu chống phá chính quyền nhân dân. Điển hình là vụ âm mưu phá hoại ngày Lễ Quốc khánh 2/9 của tổ chức “Đảng Thanh niên quyết thắng” do 2 tên sĩ quan và lính biệt động quân của chế độ cũ cầm đầu. Chúng có kế hoạch thực hiện nhiều hoạt động như rải truyền đơn, treo cờ ba que; gây nổ, đánh tạc đạn vào các cơ quan huyện và một số nơi công cộng đông người ở Ninh Hiệp; ám sát cán bộ, du kích; gài mìn ở nơi mít tinh tại Sân vận động huyện… Từ tin báo của quần chúng, vào lúc 12 giờ đêm 1/9/1975, lực lượng an ninh đã kịp thời tóm gọn 27 tên trong lúc chúng đang tập họp phân công nhau hành động tại thôn Vĩnh Phú, xã Ninh Hiệp, thu toàn bộ tang chứng gồm tài liệu, cờ ba que, ảnh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, lựu đạn, chất nổ… Vụ việc được phá án nhanh chóng, bảo vệ ngày lễ kỷ niệm Quốc khánh 2/9 diễn ra an toàn tuyệt đối, đồng thời răn đe những tên phản động có âm mưu phá hoại cuộc sống hòa bình của nhân dân. Nhờ đó, góp phần giữ vững tình hình an ninh và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện, nhân dân yên tâm, phấn khởi.
Xây dựng và củng cố tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể cách mạng
Sau ngày giải phóng 2/4/1975, 2 huyện Nam Ninh Hòa và Bắc Ninh Hòa thống nhất lại thành một đơn vị hành chính. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nam Ninh Hòa giải thể, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Ninh Hòa được tỉnh giao là Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Ninh Hòa gồm 17 đồng chí, Ban Thường vụ Huyện ủy 7 đồng chí; đồng chí Võ Danh, Tỉnh ủy viên làm Bí thư; đồng chí Võ Tấn Mại làm Phó Bí thư Huyện ủy. Nhiệm vụ quan trọng lúc này là phải nhanh chóng thiết lập hệ thống chính trị[8] trong huyện. Với một lực lượng cán bộ, đảng viên rất mỏng làm nòng cốt, chỉ trong 3 ngày đã thiết lập xong bộ máy tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể cách mạng từ huyện đến tất cả các xã; các thôn, phần lớn đều lập ra ban tự quản và chi hội đoàn thể. Bộ máy của Huyện ủy được kiện toàn, gồm Ban Tổ chức, Ban Kiểm tra, Ban Tuyên huấn và Văn phòng Huyện ủy. Tuy có một số cán bộ từ các nguồn bổ sung về, số lượng đảng viên có tăng lên nhưng không đáng kể. Đến tháng 10/1975, nhiều cơ quan, nhiều xã vẫn chưa đủ số lượng để thành lập chi bộ nên phải thành lập các chi bộ ghép liên cơ quan, liên xã như Ninh Hưng - Ninh Quang, Ninh Lộc - Ninh Hà, Ninh Đông - Ninh Phụng, Ninh Xuân - Ninh Sim và 5 buôn đồng bào dân tộc thiểu số… Cùng với công tác tổ chức, Đảng bộ đặc biệt quan tâm đến công tác tư tưởng. Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên xuất hiện tư tưởng tự mãn, muốn nghỉ ngơi, công thần, hách dịch, tính toán cá nhân; một số hoang mang, bi quan trước thực trạng đời sống quá khó khăn, khác với suy nghĩ trước giải phóng cho rằng khi kết thúc chiến tranh sẽ có cuộc sống đầy đủ về vật chất, tinh thần. Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo tiến hành các đợt sinh hoạt chính trị, tự phê và phê bình trong toàn Đảng bộ. Nội dung học tập về mục tiêu, lý tưởng của Đảng; về đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; về nội dung bài diễn văn của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đọc tại buổi Lễ mít tinh chào mừng chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam 30/4, ngày 15/5/1975; nghiên cứu quán triệt những nhiệm vụ và giải pháp 6 tháng cuối năm 1975 do Hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy mở rộng ngày 9 - 11/7/1975 đề ra. Thông qua các đợt học tập chính trị, cán bộ, đảng viên nâng cao một bước nhận thức về lý luận chính trị, về chủ trương, chính sách, quan điểm quần chúng của Đảng; thấy được trách nhiệm và tình cảm của người đảng viên cộng sản lúc này là tiếp tục đồng cam, cộng khổ với dân, động viên và lãnh đạo quần chúng vượt qua mọi khó khăn… Đồng thời nghiêm túc tự phê bình và phê bình, khắc phục một số hiện tượng lệch lạc về tư tưởng, thái độ, tác phong làm việc có ảnh hưởng không tốt đến phong trào quần chúng.
Về xây dựng chính quyền, thực hiện chỉ đạo của cấp trên, tháng 5/1975, Ủy ban Quân quản huyện chuyển giao nhiệm vụ cho Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện. Thường trực Ủy ban vẫn là đồng chí Nguyễn Thặng, Tỉnh ủy viên làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Văn Chấp, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy làm Phó Chủ tịch. Các phòng chức năng trực thuộc được thành lập gồm 9 cơ quan là Văn phòng Ủy ban, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thủ công nghiệp, Phòng Thông tin - Văn hóa, Phòng Giáo dục, Phòng Y tế, Phòng Tài chính - Thương nghiệp, Phòng Lương thực, thực phẩm và Phòng Giao thông - Vận tải. Đến tháng 10/1975, theo hướng dẫn của tỉnh, các phòng ban được củng cố, kiện toàn thành 11 cơ quan[9]. Ở cấp xã, do lực lượng cán bộ, đảng viên và quần chúng nòng cốt mỏng nên trong bộ máy mới thành lập có bố trí một số cán bộ không đủ tiêu chuẩn về chính trị. Sau Hội nghị Huyện ủy mở rộng tháng 5/1975, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo tiến hành rà soát củng cố chính quyền xã, sàng lọc những người không đủ tiêu chuẩn chính trị trong bộ máy chính quyền xã, thôn, lực lượng an ninh, du kích… Mặc dù chưa được huấn luyện, bồi dưỡng công tác chính quyền, song đội ngũ cán bộ cơ sở có nhiều cố gắng trong việc ổn định tình hình trật tự xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tổ chức liên tục các phong trào cách mạng của quần chúng theo chỉ đạo của huyện nhằm thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên địa bàn huyện.
Đối với công tác vận động quần chúng, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo củng cố, kiện toàn và thành lập Ủy ban Mặt trận, các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp thanh niên, Hội Phụ nữ, Nông hội huyện và cơ sở; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ hội; phát triển hội viên. Các hoạt động đoàn thể diễn ra rất sôi nổi. Hầu hết cán bộ các tổ chức đoàn thể cách mạng huyện đều tỏa xuống phối hợp với xã tuyên truyền, giáo dục, vận động hội viên, đoàn viên tích cực tham gia và làm nòng cốt các phong trào khai hoang, vỡ hóa, làm thủy lợi, tăng gia sản xuất, xây dựng nếp sống văn hóa mới, vệ sinh phòng bệnh, thu gom vũ khí, thuốc nổ, giữ gìn trật tự an ninh… Nổi bật là các hoạt động của Đoàn Thanh niên. Tháng 7/1975, toàn huyện có 87 đoàn viên thanh niên, 11 chi đoàn[10]; bên cạnh Đoàn có Hội Liên hiệp thanh niên với hàng ngàn hội viên có tổ chức đến chi hội. Huyện đoàn mở nhiều lớp huấn luyện, bồi dưỡng cho cán bộ đoàn, hội. Để lại dấu ấn mạnh mẽ là tổ chức phong trào thanh niên xung phong. Đến tháng 7/1975, Đoàn đã tập hợp được gần 330 thanh niên tham gia vào các đội thanh niên xung phong. Đây là lực lượng đi đầu trong phong trào khai hoang, phục hóa, làm thủy lợi... Sinh hoạt thanh niên lúc đó phổ biến là cắm trại, vừa sinh hoạt với chủ đề “nếp sống đẹp, lời nói hay, việc làm tốt”, vừa học tập điều lệ của đoàn, hội, tham gia lao động giúp dân. Ủy ban Mặt trận huyện tổ chức tiếp xúc với hàng trăm công thương gia ở tất cả ngành nghề khác nhau để tuyên truyền, vận động họ thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ lâm thời; động viên, khuyến khích họ tích cực phát triển sản xuất...
Sau hơn 8 tháng kể từ sau ngày giải phóng 2/4, nhờ bám sát sự chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy Ninh Hòa đã đề ra những chủ trương, nhiệm vụ cơ bản, cấp bách trước mắt đúng đắn và phù hợp với tình hình của huyện, đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn cách mạng lúc bấy giờ. Với truyền thống và khí thế cách mạng sôi nổi, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong huyện đoàn kết, nỗ lực vượt qua những khó khăn do hậu quả của cuộc chiến tranh tàn khốc hơn 30 năm để lại, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tình hình kinh tế, xã hội, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện đã dần đi vào ổn định; sản xuất từng bước được khôi phục; nạn đói được đẩy lùi, đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, tiến bộ; bộ máy Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể cách mạng trong toàn huyện được thiết lập và củng cố. Với những kết quả đạt được đã làm thất bại bước đầu âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch và “kế hoạch hậu chiến” của Mỹ trên địa bàn huyện.
Những kết quả đạt được tuy chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, nhưng trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, phức tạp, nhiệm vụ rất mới mẻ, nặng nề của những ngày đầu sau kết thúc chiến tranh thì đó là những kết quả bước đầu rất đáng trân trọng, tự hào của cán bộ, đảng viên và nhân dân toàn huyện. Đây là tiền đề rất quan trọng để Đảng bộ, quân và dân toàn huyện bước tiếp trên con đường xây dựng quê hương theo lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”[11].
[1] Lúc giải phóng, dân số trên 121.000 người; có 20 xã, gồm: Ninh Hiệp, Ninh An, Ninh Thọ, Ninh Đông, Ninh Thân, Ninh Thượng, Ninh Sim, Ninh Xuân, Ninh Phụng, Ninh Bình, Ninh Quang, Ninh Hưng, Ninh Lộc, Ninh Hà, Ninh Giang, Ninh Đa, Ninh Phú, Ninh Hải, Ninh Diêm, Ninh Phước.
[2] Giá cả trước ngày 2/4/1975: Gạo 79đ/kg, thịt lợn 500đ/kg, sữa 200đ/hộp, bột ngọt 1.760đ/kg; sau 2/4/1975, giá các mặt hàng tương ứng tăng lên: 220đ/kg, 1.600đ/kg, 800đ/hộp, 10.000đ/kg.
[3] Nghị quyết Hội nghị Huyện ủy Ninh Hòa tháng 5/1975. Tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Thị ủy Ninh Hòa.
[4] Đập bổi là đập ngăn nước thời vụ, được đắp bằng đất, đá. Đập thường bị vỡ sau mùa mưa, hàng năm phải đắp lại.
[5] Tổng số tiền đổi trong đợt đổi tiền ngày 22/9/1975 của toàn huyện trên 1,3 tỷ đồng tiền cũ. Hộ đổi nhiều nhất là 15 triệu đồng tiền cũ (ở Ninh Thân).
[6] Trong 44 cán bộ y tế, có 1 bác sĩ, 3 y sĩ; tháng 6 - 7 đào tạo được 32 y tá, nữ hộ sinh và dược tá.
[7] Năm học 1975 - 1976, hệ phổ thông có 25 trường cấp I, 19.707 em, 461 giáo viên; 9 trường cấp II, 3766 em, 79 giáo viên; 1 trường cấp III, 984 em, 26 giáo viên.
[8] Trước thời kỳ đổi mới 1986, hệ thống chính trị được gọi là chuyên chính vô sản.
[9] 11 cơ quan bao gồm: Văn phòng Ủy ban, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thủ công nghiệp, Phòng Tài chính, Phòng Thương nghiệp, Phòng Lao động, Phòng Thông tin Văn hóa, Phòng Giáo dục, Phòng Y tế, Phòng Thương binh - Xã hội, Công an huyện. Các bộ phận tổ chức chính quyền, thanh tra, giao thông vận tải lúc đó trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cách mạng huyện.
[10] 11 chi đoàn gồm 9 chi đoàn cơ quan, 2 chi đoàn xã; 18/20 xã chưa có chi đoàn.
[11] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, HN 2000, tập 12 (1966 - 1969), tr. 110.